Họ Bùi Nghệ An | Truyền thống văn hóa | Để gia phả trở thành nhân tố tích cực trong việc phát huy truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam
 
Untitled Document
Để gia phả trở thành nhân tố tích cực trong việc phát huy truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam
Ngày cập nhật : 26/11/2011
HỌ BÙI NGHỆ AN | Gia phả là lịch sử của dòng họ. Mỗi dòng họ có gia phả hoàn chỉnh, sẽ phản ánh toàn diện, thấu đáo và sâu sắc đến nội dung vốn có của dòng họ, tức lịch sử của nhân dân đã được phản ánh.




Ta cho rằng: cá nhân làm nên lịch sử và quần chúng nhân dân làm nên lịch sử, mà khối người sau nầy, tức quần chúng nhân dân là chủ yếu, to lớn, từng gia đình cùng huyết thống, tạo nên dòng họ. Tất cả các dòng họ tạo thành một thực thể là đồng bào. Cả khối đồng bào cùng sống trên đất nước Việt Nam là dân tộc Việt Nam. Lịch sử Việt Nam, trước hết và trên hết, là lịch sử của đồng bào, của các dòng họ.

Gia phả ghi những gì?

Về phần “tái sản xuất ra con người”, và “tái sản xuất ra của cải vật chất để nuôi sống con người”, với tình cảm, ý thức, nhận thức của họ, từ ông bà thủy tổ đến hậu duệ là đã trải qua mấy chục đời, đó là cả một bộ bách khoa về con người. Gia phả - giả định là nó đã phát triên hoàn chỉnh, sẽ ghi chép đầy đủ về con người của một đất nước cụ thể. Người chết và người sống, trong họ có bao nhiêu người, tên họ, ngày sanh, ngày mất, nơi chôn cất (người chết); hình thái, vóc dáng, công tích, tính chất từng người.

Họ đã tổ chức duy trì, phát huy cuộc sống bằng lao động, sản xuất trên mảnh đất của họ. Mặt khác, họ là khối người thông minh, sáng tạo, họ tư duy những vấn đề thiêng liêng, bình thường và siêu đẳng, họ có/hoặc không tôn giáo, họ cũng hứng thú trong sáng tạo nghệ thuật, từ các hình thức để thờ phụng, đến các loại thi ca, nhạc, họa. Họ cũng là lực lượng chiến đấu chủ yếu để chống kẻ thù, bảo vệ đất nước, với việc chiến đấu chống chọi với thiên nhiên. Truyền thống lao động, truyền thống yêu nước và truyền thống văn hóa là ba cái tích lủy từ bao đời trong các dòng họ Việt Nam.

Dòng họ không có phả, gọi là dòng họ khuyết phả.
Khuyết phả khác với có phả, trước hết họ không thể hình dung được, hoặc không thể phát huy được đúng truyền thống bản năng có từ dòng họ mình; hoặc có thụ hưởng, thừa kế về vật chất như đất đai, nhà cửa, hoặc về tinh thần như tài năng khiếu kinh doanh, dạy học, âm nhạc… thì cái được thụ hưởng đó, nguyên gốc do đâu và từ đâu, họ không biết, nhất là về mặt tinh thần có khi họ lại còn cho đó là do thiên tính.

Về tâm lý, người có phả sẽ tự tin, đường hoàng sống trong dòng họ và khi tiếp xúc với xã hội,
ngoài phần bản năng, năng lực cá nhân, anh ta còn thấy cả tổ tiên, dòng họ của mình bên cạnh, nhứt là trong hoàn cảnh gian nan thử thách cao. Từ đó, anh ta cũng sẽ nhìn sang các dòng họ khác: nếu là dòng họ có phả, sự trân trọng, đáng kính sẽ cao hơn! Con người có gốc sẽ khác xa với con người mất gốc.Về mặt xã hội, dòng họ sinh sống, phát triển trên một địa bàn nhứt định, đều có sự quan hệ giao tiếp tỏa rộng ra. Các dòng họ khác, do sự định hình từ bao đời, như là một sự đương nhiên vốn có, đã tạo thành mối quan hệ quen biết, thân thuộc hoặc đã kết thành sui gia. Nhưng sự quen biết và liên kết ấy, nếu toàn diện, mau chóng và rộng rãi hơn nhiều; ở đây chữ viết là phương tiện thông tin mẫu mực. (Trước đó không có chữ viết, họ nhận biết nhau bằng ký ức, bộ nhớ và truyền khẩu và như thế thì  rất dễ suy suyển) Bộ phả, vừa ghi chép dòng họ, nó cũng vừa là nơi tích lũy, chứa đựng tri thức với tư cách là một bộ sử dùng để nhận biết dòng họ. Dựa vào sự phát triển dòng họ để tự hào, tự tin vì đây thuộc qui luật phát triển con người, hữu thỉ vô chung, tiếp nối mãi mãi…

Như đã nêu, gia phả là lịch sử của chính bản thân, mặt khác, nó đã nói rõ tổ quán, về diện tích tự nhiên, lịch sử vùng đất, các dòng họ cùng sống chung, nhà ở, nhà thờ tổ, đình chùa, chợ búa… của một xóm ấp. Đây chính là địa chí ấp, tỉ mỉ, chi tiết. Lịch sử sẽ quan tâm đến tông tích nhân vật, thí dụ Gia phả họ Nguyễn - Huỳnh ở ấp Dinh, xã Khánh Hậu, thị xã Tân An, tỉnh Long An, qua “Lời ngỏ”: “Kiến họ Huỳnh là một trong những họ tộc lớn ở vùng đất phương Nam, hiện diện rất lâu đời, ước tính khoảng đầu thế kỷ thứ 17, mà hiện nay mộ phần ông Nguyễn Công Lượng - (là thân sinh ông Nguyễn Huỳnh Đức, là người làm quan dưới triều Lê) - tọa lạc tại ấp Dinh, xã Khánh Hậu…”. Bộ gia phả này đươc thực hiện với tính  khoa học, khám phá ra nhiều điều mới là qua các tư liệu về văn tế, chiếu chỉ, sắc phong bằng chữ Nho.

Gia phả họ Phan ở ấp Tiền, xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi ghi rõ lai lịch ông Phan Văn Khải, gia phả họ Trương ở ấp Giồng Dứa, xã Mỹ Hạnh Nam, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An cũng ghi rõ lai lịch, từ đời sơ, cố ông Trương Tấn Sang v.v... Trong 100 bộ gia phả do Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành Gia phả TP Hồ chí Minh từ năm 1992 đến nay, mô tả dòng họ nào từ “miền ngoài” vào đâu, ở đâu, trước không có bộ nào mô tả việc các vị tổ đời 1, từ thế kỷ  17, 18, 19, khi khai hoang lập xóm ấp mà lại đụng độ với người Khơmer, tức không có hiện tượng giành đất, xâm chiếm.

Một mục tiêu lớn của việc dựng phả là việc truy tìm dòng họ, nhận họ, tức quá trình “vấn tổ tìm tông”, kết liên các chi họ (cùng họ) với nhau, để chứng tỏ một họ cụ thể nào cũng sẽ có khả năng từ một ông thủy tổ xa xưa, song trong thực tế, đây là việc làm khó. Có thể dùng ADN để nhìn nhận, song để xác định quan hệ trên dưới, gần xa thì vô phưong! Có trường hợp việc truy tìm có kết quả, những chi họ Nguyễn ở Long An, qua “phương pháp gia phả học”, đã tổ chức nhân họ đàng hoàng.

Gia phả ghi tất cả những vấn đề thuôc nội dung tư tưởng của dòng họ, quan niệm về phúc, làm sao để có phuc, về nề nếp và tập tục, những quan niệm cơ bản đúng đắn của những dòng họ làm cơ sở, từ đó tạo ra những qui phạm, những nề nếp tập tục, củng cố dần, làm sáng thêm văn hóa gia đình - dòng họ hôm nay, cộng vào đó luật pháp lại bảo vệ.

Trong các bộ gia phả đã dựng, quan sát quá trình phát triển các dòng họ từ xưa, chúng ta thấy càng rõ những vấn đề then chốt cho chính ngày hôm nay, gia lễ, gia pháp, gia phong, gia đạo…. Phải xuất phát từ đây để tiến lên bàn bạc nhằm thực hiện các vấn đề giáo dục gia đình hiện nay. Các bộ gia phả đều ghi nhận việc khuyến học hiện nay: con cháu thành đạt ngày càng nhiều; người ta quan tâm đến việc học chữ và học nghĩa, có chương trình khuyến học, khuyến nghiệp và khuyến tài trong các bộ phả. Loại bỏ những tư tưởng hạn chế của Nho giáo, các dòng họ xưa đã vận dụng sách Minh Đạo gia huấn, có nhiều nội dung về giáo dục gia đình đáng quý.

Phàm nhân bất học (Phàm người chẳng chịu học)

Minh như dạ hành (Mờ tối như đi đêm)




Ngày nay ta dùng lại ”Tiên học lễ, hậu học văn” là đúng. Sách nầy của Trần Minh Đạo đã ghi:

Huấn đạo chi sơ (Bước đầu dạy bảo)

Tiên thủ lễ pháp (Trước hết giữ phép)


Qua các bộ phả, nhất là trong phần phả ký, truyền thống quý báu, tốt đẹp của dòng họ mà ta gọi là “tính ưu việt của dòng họ”, là phần giáo dục trong gia đình, nó đã un đúc từ nghìn xưa, là nền tảng của sự phát triển. Đúc kết tiêu chuẩn giáo dục gia đình nói chung qua gia phả, là rất khó. Tiêu chuẩn đó hiện nay chưa có, song gia đình nào cũng nói được cái cơ bản của sự giáo dục này. Cũng từ sách Minh Đạo gia huấn, đã nêu một số nguyên tắc, người ta thuộc hoặc không, nhưng trong cách sống đều thể hiện đầy đủ: làm cha phải có lòng thương, làm con thì phải có hiếu, làm anh thì phải yêu em, làm em thì phải kính anh (cung), làm chồng thì phải vui hòa, làm vợ thì phải nhu thuận. Đó là nguyên tắc sống của gia đình, hiểu theo cách bây giờ cũng không thoát những chuẩn mựccơ bản đo.

Trong các bộ gia phả, Phật giáo, Thiên chúa giáo, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và các tín ngưỡng khác, khi đề cập đến dòng họ, môn gia phả không bỏ qua một loại tín ngưỡng nào. Chính GS Vũ Ngọc Khánh đã nêu đại ý: Nhận thấy các tôn giáo, bằng cách của mình đã tác động trực tiếp, tích cực đến việc giáo dục gia đình, nhất là giáo dục đạo đức đạo Phật tuy không có những phương châm tu thân, tề gia, trị quốc như đạo Nho. Chữ hiếu hay nói về công đức của cha mẹ, đạo Phật nói cụ thể và nhiều hơn Nho giáo. “Lạy cha ba lạy một quì, Lạy mẹ bốn lạy con đi lấy chồng”, đó là ca dao xuất phát từ Phật giáo, cách lạy đó là cách lạy của Phật. Vị vua đi tu Phật Trần Nhân Tông, qua sách “Thập Thiện” đã dạy; “Không sát sinh, không trộm cắp. Không tà dâm, Không nói dối, Không nói lới ly gián, Không nói lời ác,, Không nói lời tạp uế , Không tham lam , Không giận dữ, Không hà tiện. Với bài phú “Cư Bần Lạc Đạo” cũng của Trần Nhân Tông: “Bụt ở trong nhà, chẳng phải tìm xa”. Phật giáo cho đi tu là để tạo phúc: “Đã xây chín đợt phù đồ, Không bằng làm phúc cứu cho một người”.

Đạo Thiên chúa lúc đầu vào Việt Nam có những điều rao giảng không phù hợp với văn hóa dân tộc Việt Nam như cấm không thờ phụng tổ tiên, không tin thần Phật, cho tổ tiên là có tội… về sau, có cái đã chấn chỉnh. Trái lại Thiên Chúa rất coi trọng gia đình, kinh Thánh đã nói nhiều đến “Sự thánh thiện của hôn nhân”, ca ngợi “Người phụ nữ có đức hạnh”. “Ai bỏ rơi cha mình là phạm thượng”, sách Mat thêu “chớ ngoại tình , đừng li dị”. Ở Phát Diệm, có những bài thơ vè về cụ Sáu, tức linh mục Trần Lục, nêu chi tiết, tỉ mỉ, cụ thể để dạy đàn bà con gái, việc tiếp khách, việc ăn làm, việc đi, việc đứng… cách ngồi, cách ăn cơm. Linh mục này là người đã thiết kế xây nhà thờ Đá ở Phát Diệm 1891, một nhà thờ độc đáo, một kỳ công của kiến trúc nhà thờ Việt Nam (nhà thờ Ba Chuông ở TP Hồ Chí Minh hiện nay, cũng theo phong cách, kiểu dáng cổ ấy).

Qua một số tín ngưỡng khác: người dân tin có trời, tin có Đạo Thánh, tín ngưỡng về bà Mẹ (Mẫu Cửu Trùng, Mẫu Thượng Ngàn, Bà Liễu Hạnh), Trời, Thánh, Mẹ… đều có những lý luận, phương châm, sách dạy về tu dưỡng, làm lành lánh dữ một cách gần gũi, thuyết phục, không cao xa.

Dòng họ là những người sáng tạo ra ca dao, chuyện cổ tích, đồng thời cũng là những người thụ hưởng chúng. Những câu như “Con người có tổ có tông, Như cây có cội như sông có nguồn”, thường xuất hiện trong một bộ gia phả hoặc trong lời tựa hoặc trong phả ký. Hoặc trong những câu trực tiếp giáo dục gia đình, ứng xử, khẳng định giá trị dòng họ. Con cháu chịu sự giáo dục của ông bà, cha mẹ và cả tổ tiên. Dòng họ Việt Nam chú ý đến giống nòi: “Lấy vợ xem tông, Lấy chồng xem họ”, qua cưới hỏi, họ có sự lựa chọn. Các dòng họ sống có nghĩa tình, từ trong họ đến ngoài họ, các anh em gắn bó nhau từ trong một gia đình, “như thể tay chân” , “Bầu ơi thương lấy bí cùng, Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn ”. Trong sáng tác và thụ hưởng, văn học dân gian khi nói về đạo đức tình cảm, kinh nghiệm ứng xử, kiến thức quê hương, kiến thức thường thức, những bộ gia phả sâu sắc cũng không quên đề cập. Khi dựng gia phả họ Trương ở Gò Công, có những người chuyên sáng tác những bài ca tài tử, bài vè…

Chúng ta cũng có những tác phẩm thành văn được ghi lại trong những bộ gia phả cổ: “Mộ Trạch Vũ tộc thế hệ sự tích ” do ông Võ Văn Sổ dịch. Đây là bộ gia phả được ông Vũ Phương Lan, cháu đời 15 chi 3 họ Vũ ở Mộ Trạch, tiến sĩ đời Lê Cảnh Hưng (1740 - 1786) dựng, một mặt nêu rõ các nhân vật trạng nguyên, tiến sĩ làm nên quan tướng các triều, đồng thời phải nói đây là gia phả của văn học, của thi thơ Việt Nam, là một dòng họ “Nhân hậu và trí tuệ” (chữ do Vũ Khiêu). Riêng với ông Hoàng giáp (1502) Tống hiên Vũ Cán, các bài thơ và ký của ông về cảnh quang và nhân vật Mộ Trạch được coi là kho tàng quí hiếm. Ở mấy trang đầu, phần phả ký cũng đã giới thiệu câu tiễn do Tham nghị Vũ Đăng Hiển làm:

“Bế thời tận tống thiên lai khứ

Khai nhựt trùng nghinh Bá Phước lai

Nhứt đoàn vân lập trung nghi thạnh

Vạn cổ hương danh miếu mạo quang”

Ngày khai nghinh Bá Phước

Trực Bế tống thiên lai

Một đám mây lành che miếu võ

Muôn năm hương khói tỏa vung nghi."


(Võ Văn Sổ dịch)

Cũng trong bộ gia phả Mộ Trạch nói trên, những chuyện vui dân gian về “trạng vật”, ‘trạng cờ” cũng được nêu lên một cách sinh động. Kỷ sự của mỗi vị trạng nguyên, tiến sĩ, phần cuối lại có những bài thơ của Tô Quận Công tức Trạng nguyên Lê Quang Bí (cháu ngoại của họ Vũ ) hoặc của Thọ Lảnh Bá, những bài thơ Đường luật hoặc tứ tuyệt sắc sảo.

Như thế, quả là ngành gia phả đã có trong truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam. Ở Mỹ, việc nghiên cứu về gia tộc, dòng họ thuộc về bộ môn gia phả học, một số trường đại học lại xếp gia tộc, dòng họ vào xã hội sử, ở Trung Quốc và Á Đông nói chung, ngoài khía cạnh sử học, người ta còn chú ý đến khía cạnh đạo đức tâm lý.

******************************************************************************************************

Dựng gia phả là nói về con người - những con người cùng một huyết thống, cho nên các bộ gia phả dựng thành công, nói chung là một tác phẩm văn học - lịch sử. Sưu tập đầy đủ các bộ gia phả có từ trong lịch sử, cộng với các bộ gia phả dựng mới ngày càng nhiều thêm, ta sẽ có một tài sản văn hóa phi vật thể to lớn dày đặt những con người, sự kiện tinh thần và vật chất của dân tộc. Lúc ấy ta cũng có một viện nghiên cứu gia phả Việt Nam, ta cũng có những trường cao đẳng, đại học với những khoa giảng về gia phả, về dòng họ và cũng như vậy trong nhân dân, họ tộc nào cũng có người biết thông thạo cách dựng gia phả cho mình. Về ngành văn hóa, xem đây là một sự nghiệp, có những hướng dẫn cách xây dựng một bộ gia phả cho khắp cùng xã ấp thì là một điều tốt đẹp. Song hiện nay, chúng ta chỉ mới bắt đầu từ một Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành Gia phả TP Hồ Chí Minh, với mục tiêu: Phục hồi ngành gia phả Việt Nam, với phương châm: Nghiên cứu gia phả là khoa học, thực hành gia phả là thiêng liêng, thì quả là sức lay động còn yếu, độ thắm còn mỏng, hiệu quả còn ít…

Bùi Chí Nhân (Theo giaphatphcm.com)
 Bản in  Lên đầu trang

- Bàn về cách xưng hô trong gia đình (30/11/2011)
- Đám giỗ có vị trí quan trọng trong việc thờ cúng tổ tiên (26/11/2011)
- Gia phong xứ Nghệ (06/08/2011)
- Gia đình, dòng họ - những vấn đề cơ bản của văn hoá làng, xã Việt Nam (06/08/2011)
TÌM KIẾM BÀI VIẾT
THƯ VIỆN ẢNH
           Việc họ xưa & nay
 Văn hóa dòng họ: Diện mạo và hướng đi
 Văn hóa dòng họ và dòng họ văn hóa
 Vai trò tộc trưởng xưa và nay khác nhau như thế nào?
 Nguyên tắc cúng, khấn, vái, lạy
 Gia phả và nhà thờ họ
           Truyền thống văn hóa
 Bàn về cách xưng hô trong gia đình
 Đám giỗ có vị trí quan trọng trong việc thờ cúng tổ tiên
 Để gia phả trở thành nhân tố tích cực trong việc phát huy truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam
 Gia phong xứ Nghệ
 Gia đình, dòng họ - những vấn đề cơ bản của văn hoá làng, xã Việt Nam
           Làng quê Việt Nam
 Trò vui dân gian ngày xuân thuở xưa và ý nghĩa nhân văn của nó
 Việc làng nước ngày xưa
 Cổng làng - hồn Việt xưa nay vương vấn...
 Đình làng - gương mặt kiến trúc cổ Việt Nam
 Kiến trúc làng Việt Nam
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BAN LIÊN LẠC HỌ BÙI NGHỆ AN
Email :
hobuinghean@gmail.com - Website : www.hobuinghean.com.vn
Trưởng ban liên lạc : Bùi Xuân Lương - Điện thoại : 0945.912.618
Phụ trách nội dung : Bùi Chí Nhân - Điện thoại : 0915.555.977

du học nhật bản tại tp vinh học tiếng nhật tại tp vinh du học nhật bản tại nghệ an học tiếng nhật tại nghệ an