Họ Bùi Nghệ An | Làng quê Việt Nam | Việc làng nước ngày xưa
 
Untitled Document
Việc làng nước ngày xưa
Ngày cập nhật : 16/10/2012
HỌ BÙI NGHỆ AN | Làng là tiếng Nôm, xã là từ Hán Việt; làng tức là xã - Về phương diện tổ chức hành chính ngày xưa, đồng cấp với làng có một loạt các đơn vị cơ sở khác mà tầm vóc và truyền thống không được như làng.
Ở miền đồng bằng có thôn, ấp, phường; ở trên sông nước có phường, vạn; ở chốn thị thành vẫn có làng, phường và bang của cộng đồng người Hoa; ở miền núi cũng có thôn, phường, trang, bản… Làng và các đơn vị hành chính đồng cấp đều được phép cho khắc khuôn dấu bằng gỗ, hình chữ nhật, đóng bằng mực tàu.

Như vậy làng và các đơn vị đồng đẳng về hình chính có tư cách pháp nhân. Việc làng là việc của thôn xã có liên quan mật thiết và thiêng liêng đến từng cá nhân, gia đình, họ tộc… không thể nào tách việc nước hàm chứa trong việc làng và không được phép tách việc làng ra ngoài việc nước. Vì sao lại làng nhàng qua lại như thế? Giữa làng với nước có mối quan hệ gắn bó mật thiết và thiêng liêng. Người đảm trách việc làng do dân đinh trực tiếp bầu lên gọi là quan làng để làm việc thôn xã. Dân làng đi bầu cử để chọn người tài ra làm việc làng, thể hiện tinh thần dân chủ xuất phát từ làng xã. Việc đi bầu của dân đinh (phụ nữ không tham dự) được gọi là đi đầu tiêm. Tiêm là phiếu bầu.

Trong một số tình huống và hoàn cảnh phải ứng xử với dân làng thì làm việc làng còn khó khăn hơn làm việc nước. Chỉ có người làng được dân đinh bầu chọn và trúng cử mới đủ tư cách vào hàng hương chức mà người ta gọi là hội đồng hương chính. Người đứng đầu Hội đồng này để điều hành việc làng được gọi là lý trưởng, dân gian quen gọi bằng cái tên thân thương - ông xạ mần việc làng:

                                                Thân cô nhưng thế không cô,
                                                Liều thân xuống đó chỗ mô cũng có làng.


Rút cuộc làm việc làng cũng là làm việc nước, vì thế mà từ xa xưa trong dân gian đã hình thành nhóm từ đúc gồm 4 chữ: SƠN HÀ XÃ TẮC.

Thôn xã nào cũng có đình, chùa, miếu, vũ, trường học… Trường do ông thầy đồ, thầy khóa dạy mà vẫn có người đỗ đạc cao. Đình làng vừa là nơi thờ thần khai canh, khai khẩn của làng; đình làng vừa là nơi quan làng làm việc làng. Nơi ấy là ngôi nhà chung của làng, là linh hồn và tinh anh của làng nước. Đình còn là nơi dân làng bàn việc trọng đại của làng, nơi nhà vua chọn làm hành cung mỗi khi đi tuần thú, thăm dân chúng cho rõ sự tình. Vì thế mà đình làng được gọi là đình trú. Đình làng còn nơi làng xử kiện, nơi quan làng nhóm họp để bàn việc làng, việc nước. Hội nghị Diên Hồng là một nét son vàng chói trong lịch sử làng xã và giang sơn Tổ quốc của nước ta trước họa ngoại xâm dưới thời nhà Trần.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, làng là nơi đặc bản doanh chỉ huy dân làng chiến đấu, làng trở thành lũy thép, dân làng lo việc cung cấp, tiếp tế lương thực, cứu chữa người bị thương, chôn cất người chết - Làng quê trở thành làng chiến đấu, khiến cho kẻ thù phải khiếp sợ.

Vì vậy, người ta đã ví con đình làng là một tiểu triều đình ở hạ tầng cơ sở làng nước, và cung điện, triều miếu của vua chúa ngày xưa là đại triều đình.

Việc triều đình bổ dụng quan lại, thay mặt nhà vua trong việc trị nước chỉ với tới cấp huyện hoặc châu, không vươn thấu tới làng. Làng tự quản trong việc điều hành việc làng nước dưới sự giám sát của quan chức hàng tổng mà đứng đầu là chánh tổng. Quan làng, quan hàng tổng không ăn lương nhà nước mà chỉ được hưởng trợ cấp bằng thóc hoặc bằng tiền từ quỹ của địa phương.

Đó là những nét đặc trưng nổi bật của làng nước Việt Nam mà quân thù xâm lược từ bên ngoài không ngờ tới, khiến cho mộng xâm lược của chúng phải tan vỡ khi đối đầu, đối địch với người chiến sĩ Việt Nam đầy gan dạ, trung kiên và anh hùng. Làng xã Việt Nam khác với làng xã Trung Quốc là nước láng giềng, núi liền núi, sông liền sông; khác với làng của nước Pháp, nước Mỹ đã có nhiều dính líu vào việc gây ra nhiều cái tày trời mà lịch sử còn ghi rõ:

                                                           “Cối quết trẻ thơ văng máu óc,
                                                            Phanh thây sản phụ ném vào than”.

                                                                                 (Nguyễn Đình Chiểu)

Dân gian ở vùng quê quan niệm tiến bộ rằng: “Việc làng đi trước; việc nước đi sau”, tinh thần yêu nước chống kẻ thù xâm lược của dân Việt thật tuyệt vời, phá bỏ lệ trọng nam khinh nữ: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”.

Bà Trưng, bà Triệu có cách đánh giặc của Quý Bà, bà nhà quê có cách chiến đấu, yểm trợ chiến trường của lối dân quê. Dân quê trong lịch sử Việt Nam đã thể hiện tinh thần dân chủ và bình đẳng rõ nét nhất, tiêu biểu nhất để gìn giữ từng tấc đất, ruộng vườn, núi đồi, bến bãi của Tổ quốc yêu quý. Quốc sử đã ghi chép rành rành, rõ ràng những việc làm sáng giá, cao quý của dân làng qua các cuộc khởi nghĩa chống lại kẻ thù xâm lược đất nước dưới mọi hình thức. Phá vỡ truyền thống dân tộc, làm cho đạo đức băng hoại, do thiếu tri thức để cho văn hóa lai căng, kỳ quặc là vô tình tiếp tay cho ngoại bang nhòm ngó với mưu đồ đen tối, lấn sân sâu xa vào nội tình của đất nước và Tổ quốc mến yêu.

Kể từ khi đất nước mất vào tay ngoại bang sau năm 1885 đến 1945, vua chúa trở thành bù nhìn, dân làng chịu cảnh sưu cao thuế nặng. Thực dân tha hồ bòn rút của quý bằng cách khai thác tài nguyên với giá nhân công rẻ mạt. Độc ác hơn chúng còn dùng nhiều chiêu bài thâm độc, mà lộ mặt rõ ràng là khai hóa, từ thiện, nhân ái.

Bên cạnh những đóng góp tích cực vào văn học hiện thực phê phán nữa đầu thế kỷ 20, các nhà văn Ngô Tất Tố, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Văn Vĩnh… đã như vô tình vướng phải sai lầm là đã “xé toạc thêm chiếc áo” của người dân để cho người ngoài xem lưng. Dưới góc nhìn của các nhà văn ấy thì người nhà quê đã duy trì quá nhiều hủ tục, khiến cho đời sống trở thành hủ bại. Choáng váng trước nền văn minh thực dụng của các nước Tây Phương thời bấy giờ, nhà thơ Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu (1900 - 1976) của Tự Lực Văn đoàn đã hả hê trung bút hô hào đòi “bỏ cái đình”. Tú Mỡ thời tân học ơi; sao ông vội phủ định ý nghĩa thiêng liêng của ngôi đình làng mà tiền nhân đã ra công dựng lập. Đình làng tiêu biểu cho hồn quê, một nét đặc trưng của nền văn hiến nước nhà. Xin ông đừng quên đình làng đã được tôn vinh là ĐÌNH TRUNG. Vậy thì có nên đập phá bằng cách triệt bỏ ngôi đình làng trong tâm linh người Việt không?

                                                            “Bỏ đình đi! Bỏ đình đi
                                                            Còn đình hủ tục còn di hại nhiều”.


Hoặc:

                                                            … “Triệt đình đi! Triệt đình đi!
                                                            Đình là di tích thời kỳ hủ Nho”.


Và cực đoan hơn, ông đã viết:

                                                            “Thôn quê còn cái đình
                                                            Thằng khố đây còn chết”.


Ngày nay, nông thôn đang trên đà đổi mới. Cuộc sống của dân làng đã khấm khá lên do nhiều nguồn tài trợ chính thống và chính đáng của những người ở phương xa nhớ làng hương nước theo đúng truyền thống “RUNG RUNG LÁ RỤNG VỀ CỘI” hoặc “Ly hương bất ly Tổ”.

Có điều phải nhìn nhận là số thanh niên trong độ tuổi trai tráng vì nhiều lý do phải tạm xa làng đi tìm kế mưu sinh ở phương trời xa. Ảnh hưởng tiêu cực của nếp sống đô thị đã ít nhiều xâm thực vào nếp sống yên bình của làng quê. May thay, ý thức khơi dậy truyền thống thâm hậu của làng quê đã khơi dậy bằng những sinh hoạt lễ hội. Các Hội khuyến học, khuyến tài, người cao tuổi đã mạnh dạn đóng vai trò tiên phong trong việc cổ xúy nếp sống mới sao cho phù hợp với hương ước của làng văn hiến ngày xưa mà làng văn hóa ngày nay.

Phát huy nội lực là chủ trương mới để đưa đất nước tiến lên. Nếu biết cách thể hiện những tinh hoa dân tộc bắt đúng nhịp theo đà tiến lên của khoa học hiện đại trong việc điều hành và quản trị việc làng nước, nhất là ở nơi thôn cùng xóm vắng, thì chắc rằng đất nước ta sẽ chóng vượt qua mọi khó khăn và thử thách trong thời hội nhập quốc tế, để theo kịp với các nước lớn trên thế giới.

Bùi Chí Nhân (Theo khamphahue.com.vn)
 Bản in  Lên đầu trang

- Trò vui dân gian ngày xuân thuở xưa và ý nghĩa nhân văn của nó (16/10/2012)
- Cổng làng - hồn Việt xưa nay vương vấn... (16/10/2012)
- Đình làng - gương mặt kiến trúc cổ Việt Nam (09/09/2012)
- Kiến trúc làng Việt Nam (09/09/2012)
TÌM KIẾM BÀI VIẾT
THƯ VIỆN ẢNH
           Việc họ xưa & nay
 Văn hóa dòng họ: Diện mạo và hướng đi
 Văn hóa dòng họ và dòng họ văn hóa
 Vai trò tộc trưởng xưa và nay khác nhau như thế nào?
 Nguyên tắc cúng, khấn, vái, lạy
 Gia phả và nhà thờ họ
           Truyền thống văn hóa
 Bàn về cách xưng hô trong gia đình
 Đám giỗ có vị trí quan trọng trong việc thờ cúng tổ tiên
 Để gia phả trở thành nhân tố tích cực trong việc phát huy truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam
 Gia phong xứ Nghệ
 Gia đình, dòng họ - những vấn đề cơ bản của văn hoá làng, xã Việt Nam
           Làng quê Việt Nam
 Trò vui dân gian ngày xuân thuở xưa và ý nghĩa nhân văn của nó
 Việc làng nước ngày xưa
 Cổng làng - hồn Việt xưa nay vương vấn...
 Đình làng - gương mặt kiến trúc cổ Việt Nam
 Kiến trúc làng Việt Nam
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BAN LIÊN LẠC HỌ BÙI NGHỆ AN
Email :
hobuinghean@gmail.com - Website : www.hobuinghean.com.vn
Trưởng ban liên lạc : Bùi Xuân Lương - Điện thoại : 0945.912.618
Phụ trách nội dung : Bùi Chí Nhân - Điện thoại : 0915.555.977

du học nhật bản tại tp vinh học tiếng nhật tại tp vinh du học nhật bản tại nghệ an học tiếng nhật tại nghệ an