Họ Bùi Nghệ An | Giới thiệu di tích | Đền thờ Thải bảo Bùi tướng công ở xã Nam Tân, huyện Nam Đàn
 
Untitled Document
Đền thờ Thải bảo Bùi tướng công ở xã Nam Tân, huyện Nam Đàn
Ngày cập nhật : 22/04/2014
HỌ BÙI NGHỆ AN | ĐỀN THỜ THÁI BẢO BÙI TƯỚNG CÔNG Ở NAM TÂN - NAM ĐÀN Ở làng Phú Thọ, tổng Xuân Khoa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An có đền Đức Ông thờ Ngài Bùi Huy Nhượng, một nhân thần. Ngài sinh ngày 13 tháng 4 năm Quí Vị (1523) và mất ngày 15 tháng 10 năm Đinh Hợi (1587). Ngài sai đào một kênh để dẫn nước cho bàu Láng (ở trong làng Phú Thọ) trên bờ hữu của Lam Giang.
1. Đặt vấn đề

Trong các đợt khảo sát, điền dã trên địa bàn vùng Chín Nam (nay gọi là vùng Năm Nam), trong phạm vi không gian địa lý của huyện Nam Đàn, chúng tôi đã bước đầu sưu tập được một số tư liệu liên quan đến các di tích lịch sử - văn hóa (đã được Bộ Văn hóa Thông tin hoặc Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An công nhận hoặc chưa được công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa) như: thành Lục Niên, khu mộ và nhà ở của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, đền thờ Tống Tất Thắng, đình làng Trung Cần, đình làng Hoành Sơn, đền thờ Thái bảo Bùi Tướng công, đền thờ thần Cao Sơn Cao Các, đền bản huyện Đặng Quý Đức, nhà ở và khu mộ của Thám hoa Nguyễn Đức Đạt… Chúng tôi đã bước đầu tìm hiểu, xác định vị trí, địa điểm của một số địa danh lịch sử - văn hóa liên quan đến công cuộc khai phá đất đai, chiêu dân lập làng, lập chợ, dựng đền chùa, miếu mạo…, hay công cuộc mở đất, giữ đất, đấu tranh chống ngoại xâm… không chỉ riêng của các thế hệ cư dân ở Nam Đàn và lưu vực sông Lam nói riêng mà của cả dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước như: bến Lương Trường, sở Lương Trường (xã Nam Tân ngày nay), khe Bò Đái (nằm ở Cồn Bầu, trong dãy Thiên Nhẫn, nay thuộc địa phận xã Nam Tân), núi Tượng Sơn (Nam Tân), núi Động Chủ, núi Hoàng Tâm (Nam Kim), núi Nam Hoa (Khánh Sơn), núi Trét (Khánh Sơn), chợ Thanh Đàm hay còn gọi là chợ Đình (Nam Tân), chợ Rồng (Nam Trung)… Trải bao thăng trầm biến đổi, vì những nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, nhiều di tích lịch sử - văn hóa, đình, chùa, miếu mạo chỉ còn lại là những phế tích, các địa danh lịch sử - văn hóa cũng thay đổi. Việc khảo cứu, sưu tầm, đối chiếu tư liệu để phục dựng lại bức tranh toàn cảnh về các di tích lịch sử - văn hóa cũng như các địa danh trên phạm vi không gian mà chúng tôi khảo sát là một công việc khó khăn, phải thực hiện trong cả một thời gian dài. Do đó, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ xin giới thiệu một vài nét khái quát về đền thờ Thái bảo Bùi Tướng công thuộc địa bàn xã Nam Tân, huyện Nam Đàn.

2. Tư liệu về đền thờ Thái bảo Bùi Tướng công

2.1. Các sắc phong

Theo các cụ cao tuổi ở xã Nam Tân, huyện Nam Đàn, trước năm 1954, tại đền thờ Thái bảo Thượng thư Bùi Tướng công có một hộp đựng sắc phong, trong đó có nhiều sắc phong, nhưng đến nay chỉ còn giữ được 04 sắc phong *(1)

* Sắc phong thứ nhất, là bản sao, không có dấu "Sắc mệnh chi bảo", có nội dung cụ thể như sau (chỉ trích phần dịch nghĩa):

Dịch nghĩa:

Sắc cho thần Thái bảo Thượng thư Bùi phú quân. Thần giúp đỡ đất nước, che chở nhân dân, linh ứng sâu xa. Cho nên nay Trẫm cả vâng mệnh sáng, xa nghĩ ơn thần, đáng tặng thêm là Tuấn lương chi thần. Vẫn chuẩn cho thôn Khoa Trường, xã Lương Tràng, huyện Thanh Chương, thờ phụng như cũ. Thần hãy ban ơn, giúp đỡ và giữ gìn cho dân ta.

Kính thay!

Ngày mồng 6 tháng 4 năm Tự Đức thứ 11 (1858)


* Sắc phong thứ hai:

Dịch nghĩa:

Sắc cho thôn Phú Thọ, xã Lương Tràng, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An thờ phụng thần Thái bảo Thượng thư Bùi Tướng công. Thần giúp đỡ đất nước, che chở nhân dân, linh ứng lâu xa. Trước nay chưa được ban cấp sắc văn. Cho nên, nay trẫm cả vâng mệnh sáng, điều tướng xuất quân, võ công đã thành, ơn thần rực rỡ, trứ phong là Đoan túc Dực bảo Trung hưng chi thần. Đặc chuẩn cho thờ phụng như cũ. Thần hãy ban ơn, che chở và giúp đỡ cho dân ta.

Kính thay!

Ngày mồng 7 tháng 6 năm Thành Thái thứ 10 (1897)


(Sắc mệnh chi bảo)

* Sắc phong thứ 3, được ban vào ngày 11 tháng 8 năm Duy Tân thứ ba (1909). Trong sắc phong này có nhắc tới việc ban cấp sắc phong cho đền thờ Bùi Tướng công vào năm Duy Tân thứ nhất, nhân dịp ngày vua lên ngôi, nhưng đến nay bản sắc phong đó không còn nữa.

* Sắc phong thứ 4 được ban cấp vào ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924) (xin trích phần dịch nghĩa do ông Trần Văn Hữu, cán bộ Hán Nôm, Ban quản lý Di tích và Danh thắng Nghệ An thực hiện):

 Sắc cho thôn Phú Thọ, xã Lương Tràng, huyện Nam Đàn *(2), tỉnh Nghệ An theo như trước thờ phụng thần vốn được ban tặng là Đoan túc Dực bảo Trung hưng Lê triều Tiến sĩ Thái bảo Thượng thư Bùi Tướng công tôn thần. Thần giúp đỡ đất nước, che chở cho nhân dân, linh ứng lâu xa, đã lần lượt được ban cấp sắc phong, chuẩn cho thờ phụng. Cho nên, nay đúng dịp tứ tuần đại khánh của trẫm (mừng thọ 40 tuổi của vua), đã ban chiếu báu mở rộng ân huệ, lễ lớn tăng thêm phần phẩm trật, trứ tặng thêm là là Quang ý trung đẳng thần. Đặc chuẩn cho thờ phụng. Dùng để ghi nhớ ngày mừng của đất nước mà tỏ rõ điển thờ.

Kính thay!

Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924)

(Sắc mệnh chi bảo)


2.2. Các tư liệu khác

Trong tập tài liệu bằng tiếng Pháp của Hội Dân gian Đông Dương, lập vào năm 1937, lưu tại thư viện quốc gia mang ký hiệu: FQ4018/69 với tựa đề: "Lịch sử về ngài Bùi Huy Nhượng", do thầy giáo Nguyễn Văn Tường, giáo viên dạy Trường Thanh Đàm (Nam Tân ngày nay) tường thuật khi trả lời câu hỏi theo phiếu phỏng vấn của Hội Dân gian Đông Dương về đền miếu và công tích của các vị thần được dân làng thờ phụng, có nội dung như sau:

 "Ở làng Phú Thọ, tổng Xuân Khoa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, có đền Đức Ông thờ ngài Bùi Huy Nhượng, một nhân thần. Ngài sinh ngày 13 tháng 4 năm Quý Mùi (1523) và mất ngày 15 tháng 10 năm Đinh Hợi (1587). Ngài sai đào một kênh dẫn nước cho Bàu Láng (ở trong làng Phú Thọ) bên bờ hữu Lam Giang. Truyền thuyết về thần là truyền khẩu: Bùi Huy Nhượng là con một của Bùi Huy Lâm, có trí thông minh từ sớm. Ở tuổi 24, Ngài đã đỗ Tiến sĩ khoa Bính Ngọ (1546) và được thăng quan ở triều đình nhà Lê năm Canh Tuất (1550). Khi về hưu, Ngài được phong tước "Thái Tử Thiếu Bảo". Khi về hưu, Ngài trở lại quê cha đất tổ, thấy Bàu Láng là một vùng đất màu mỡ, nhưng bị nước ngập sâu vì thế mà không sản xuất được. Bùi Huy Nhượng sai đào một con kênh nối Bàu Láng và sông Lam để dẫn lưu. Một số khá đông dân làng thấy đất đai cũ của họ bị con kênh choán mất, nên đưa đơn lên quan kiện Ngài. Buồn phiền về cư xử của dân chúng, Ngài đưa gia đình bỏ làng ra đi, đến làng Khoa Trường, huyện Thanh Chương và ở lại đó đến hết đời. Ngài mất ngày 15 tháng 10 năm Đinh Hợi. Nhưng dân làng cũ (Phú Thọ) chẳng mấy chốc nhận ra sự bất công của mình, bởi vì khi cái hồ này khô nước đã cho họ 220 mẫu đất phì nhiêu, kỳ diệu. Để tỏ long biết ơn Ngài và để đền tội, họ xây một ngôi đền để vinh danh vị quan quá cố. Trước khi thờ Ngài, dân làng không thờ vị thần nào khác. Làng Khoa Trường cũng thờ Ngài, nhưng không có bất cứ mối liên hệ nào giữa hai làng Phú Thọ và Khoa Trường."

Địa điểm thờ cúng:

a. Đặc tính tự nhiên: Đền được xây dưới chân rặng Thiên Nhẫn, bao quanh bằng những lùm cây rậm rạp, gồm 2 ngôi nhà gạch.

b. Người ta thờ thần trong một ngôi đền đặc biệt.

c. Người ta cấm chôn cất ở đó.

d. Ngoài mục đích là nơi thờ cúng Thần, đền

không có mục đích gì khác.

Các ngày lễ hội:

a. Liên quan đến đời sống của Thần, ngày lễ làm vào ngày mất của Ngài (ngày 15 tháng 10).

b. Liên quan đến canh tác.

c. Khi có dịch bệnh người ta cũng tổ chức lễ.

Các lễ vật:

a. Lễ vật gồm trầu cau, rượu, gạo nếp và lợn.

b. Kinh phí mua lễ vật do dân làng đóng góp, xôi và thịt lợn phải thật chín.

c. Sau lễ, một phần lễ vật được ăn ngay tại chỗ, một phần chia cho người dự lễ. Các chức sắc và phụ lão được phần thủ và cổ lợn.

Các phục tế:

- Số lượng là 4 người.

- Chủ tế phủ phục và quỳ trước bàn thờ, các bồi tế dâng rượu và trầu, cau lên bàn thờ và đọc văn tế.

- Các phục tế không phải tuân theo một kiêng cữ gì cả.

- Các phục tế mặc áo dài thụng *(3)

Trong tập tư liệu nói trên còn có một bảng mang mã số 4018/ML kê khai các vị linh thần được tôn thờ ở huyện Thanh Chương, trong đó có Ngài Bùi Công Nhượng thờ ở đền Đức Thánh Thái Bảo. Hai bản mang hai mã số, cùng nói về một nhân vật lịch sử, do hai người chấp bút, nội dung có nhiều điểm giống nhau, điều đó cho phép ta khẳng định về sự nhất quán của nhân vật và sự tích ở một đền thờ trên địa bàn xã Nam Tân ngày nay. Bài vị thờ tại đền thờ Thái bảo Bùi Tướng công vẫn còn giữ được, bằng chữ Hán. Ông Trần Văn Hữu, cán bộ Hán Nôm của Ban quản lý Di tích và danh thắng Nghệ An phiên âm như sau:

Lê triều Tiến sĩ, Thái bảo Thượng thư, Bùi Tướng công, Hoàng triều sắc phong Đoan túc Dực Bảo Trung hưng, gia tặng Quang ý trung đẳng tôn thần, thần vị". Trong tài liệu "Bản sao nguyên văn lưu tại Quốc sử quán triều Nguyễn" in vào năm Giáp Dần, Duy Tân (1914) của Nguyễn Văn Giá về danh sách 11 vị Tiến sĩ của Nghệ An đậu khoa Bính Ngọ, niên hiệu Nguyên Hòa (1546), là thời kỳ mở đầu nghiệp Trung hưng của nhà Lê, mọi việc bị xáo trộn bởi chiến tranh chưa kịp lưu vào khoa phổ và khắc văn bia, trong danh sách đó, có: Bùi Duy Nhượng, Lương Trường, Bích Triều, làm quan đến chức Thiếu Bảo *(4). Đào Tam Tỉnh trong sách: "Giáo dục khoa bảng Nghệ An từ năm 1075 đến năm 1919", do Thư viện Nghệ An, Sở Văn hóa thông tin Nghệ An in năm 2000, trang 215, có nhắc đến: Bùi Duy Nhượng, xã Lương Trường, huyện Thanh Chương, đậu Tiến sĩ, niên hiệu Nguyên Hòa (1546) (Theo Đông Yên Nhị huyện khoa phổ) *(5).

 PGS Ninh Viết Giao, trong "Tục thờ thần và Thần tích Nghệ An" do Nhà xuất bản Nghệ An phát hành năm 2000, ở trang 315, xã Nam Tân, làng Phú Thọ có chép về đền thờ thần Cao Sơn Cao Các ở rú (núi Chuyên) và đền thờ Bùi Duy Nhượng, có sắc phong Thượng đẳng thần... Ngoài ra, qua khảo sát trên hiện trường lịch sử thuộc địa bàn xã Nam Tân và xã Nam Lộc, một số huyền thoại, giai thoại, chứa đựng nhiều dấu ấn lịch sử về vị thần được thờ tại đền thờ Bùi Tướng công, trong đó có cả việc đào Bàu Láng, mở rộng bến đò Lương Trường, làm đường…

3. Một vài ý kiến

- Đền thờ Thái bảo Bùi Tướng công ở thôn Phú Thọ, tổng Xuân Khoa, huyện Nam Đàn; thời Tự Đức (1848-1883) thuộc thôn Khoa Trường, xã Lương Tràng (Trường), huyện Thanh Chương. Sách "Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX" (thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnh trở ra), bản dịch của Dương Thị The - Phạm Thị Thoa, do nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội phát hành năm 1981, phần trấn Nghệ An, phủ Đức Quang, huyện Thanh Chương, cho biết số làng xã thuộc tổng Bích Triều vào đầu thế kỷ XIX, bao gồm: “19 xã, thôn, vạn, sở: xã Bích Triều (thôn Triều, thôn Bàng Thị, thôn Cẩm Nang); Lâm Triều (thôn Phú Lập, giáp Hà Xá, giáp Phi Nha, giáp Thái Bình), Văn Điển (thôn Điền Lao, thôn Thu Cẩm), Vũ Nguyên, thôn Chi Cơ; Lương Trường (thôn Trường, thôn Phú Thọ, thôn Vạn Lộc, thôn Đặng Xá), thôn Ngũ Nhược, vạn Võng Nhi, Cây Trù, thôn Cây Trù, thôn Lương Giai, sở Lương Trường, Tàm Tang. Theo tài liệu này, thôn Phú Thọ, thuộc xã Lương Trường, tổng Bích Triều, huyện Thanh Chương *(6). Trải qua nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, nay phế tích của đền thờ Thái bảo Bùi Tướng công, thuộc cánh đồng Cựa Chùa, địa phận xóm 5, xã Nam Tân, Nam Đàn. Điều mà chúng tôi băn khoăn là trong các tài liệu nêu trên có sự chưa trùng khớp giữa một bên là Bùi Huy Nhượng với một bên là Bùi Duy Nhượng? Không rõ có phải do sự nhầm lẫn trong việc dịch từ văn bản tiếng Pháp và văn bản chữ Hán mà dẫn đến chỗ chưa trùng khớp đó hay không?

- Về địa danh Bàu Láng gắn liền với công lao của Bùi Tướng công, qua khảo sát của chúng tôi, hiện nay thuộc địa phận xóm 2, 3, 4, 5 của xã Nam Tân. Trên địa bàn huyện Nam Đàn và huyện Thanh Chương, ngoài Bàu Láng còn có Bàu Ó (xã Thanh Yên, Thanh Chương), Bàu Chò Cùng (xã Nam Thái, Nam Đàn), Bàu Lầm (xã Vân Diên, Nam Đàn), Bàu Nón (xã Nam Thanh, Nam Anh, Nam Xuân, Xuân Hòa, Vân Diên, Nam Lĩnh, Nam Đàn). Từ "Bàu", theo cách hiểu của người dân địa phương là vùng đất trũng, nước ngập quanh năm, nhất là về mùa mưa lũ, là nơi len, lác, cùng các loại cỏ dại mọc quanh năm, rất khó để canh tác. Bàu Láng là một nhánh sông phụ của sông Lam, chảy theo chân núi Voi, núi Chuyền, dọc theo địa bàn xã Nam Tân ngày nay, đưa nước từ các khe, suối nhỏ thuộc dãy Thiên Nhẫn ra sông Lam. Trước kia, vùng Bàu Láng ngập nước quanh năm, với độ sâu từ 1-2m, có nơi sâu đến 3m, chiều rộng từ 100-250m, chiều dài khoảng 2km, là nơi len, lác, cỏ dại mọc um tùm. Mùa lũ, nước từ sông Lam tràn vào, đem theo nhiều cá, tôm. Khi nước rút, nhân dân thường dùng câu, lưới, vó… để bắt cá. Phía Tây, Bàu Láng bắt đầu từ phía tây núi Tượng Sơn (tiếng địa phương gọi là rú Voi) - là một trong những khối núi thuộc dãy Thiên Nhẫn, chạy theo hướng song song với dãy Thiên Nhẫn, có độ cao chừng 40-50m, trông hình dáng giống như con voi đang phủ phục xuống sông Lam để uống nước. Bên kia núi Voi, ở Tả ngạn sông Lam là núi Hùng Sơn, có thung lũng Rậm, nơi Mai Thúc Loan tích trữ lương thảo, rèn luyện binh sĩ trong những ngày chuẩn bị khởi nghĩa (năm 713) và cũng là nơi yên nghỉ của Mai Hắc Đế và Mai Thiếu Đế, nay có đền thờ ở đó *(7). Trải qua thời gian, sông Lam bồi tụ, tạo thành một cánh đồng màu mỡ, chạy dài từ chân núi Voi đến bến Lương Trường xưa (bến đò ngang qua sông Lam nối liền vùng đất Khoa Trường, Phú Thọ, Tầm Tang… với thị trấn Sa Nam). Vùng đất Lương Trường xưa, từng là lỵ sở của trấn Nghệ An và từng là nơi tổ chức thi Hương cho học trò xứ Nghệ, trước khi lỵ sở Nghệ An, cũng như trường thi Hương Nghệ An chuyển về Lam Thành – Phù Thạch. Những ghi chép của Hoàng Giáp Bùi Dương Lịch, trong "Nghệ An ký" đầu thế kỷ XIX và một số tài liệu khác đã khẳng định điều đó *(8). Trên vùng đất phù sa trải dài theo bờ hữu sông Lam ấy, trước năm 1945, xóm làng mọc lên trù phú, yên vui, chuyên trồng dâu, nuôi tằm dệt vải, trồng mía, nấu mật, làm đường… nổi tiếng. Từ cuối năm 1974 đến năm 1977, công cuộc chuyển dời nhân dân dọc theo bờ hữu sông Lam vào chân núi Thiên Nhẫn, trên địa bàn các xã Chín Nam, của huyện Nam Đàn được thực hiện. Nhân dân Nam Tân cũng chuyển từ vùng đất bãi ven sông vào chân núi Voi, núi Chuyền, núi Thiên Nhẫn để lập làng mới *(9). Công cuộc cải tạo vùng đất phù sa màu mỡ trên địa bàn các xã dọc bờ hữu sông Lam ngày nay nói chung và vùng Bàu Láng nói riêng diễn ra trong suốt nhiều thế kỷ, trong đó, tài liệu chính sử và dã sử, huyền sử có nhắc tới các nhân vật như Uy Minh Vương Lý Nhật Quang khi làm quan ở Nghệ An (1040-1056), con cháu Nguyễn Xí thời Lê sơ (1427-1527) *(10), Bùi Duy (Huy) Nhượng thời Lê Trung hưng *(11). Các nhân vật này đều được nhân dân các xã: Nam Tân, Nam Lộc, Khánh Sơn… (Nam Đàn ngày nay), lập đền thờ, nhưng đền thờ các vị có công chiêu dân khai hoang, phục hóa, lập làng, đào song dẫn nước, đắp đê phòng chống lũ lụt, dựng đền, đình, chùa, miếu mạo… tạo dựng cuộc sống yên vui cho các thế hệ đời sau, trên cả vùng đất rộng lớn ấy, giờ đây chỉ còn lại những phế tích. Đền thờ Thái bảo Bùi Tướng công, từng đỗ Tiến sĩ thời Lê Trung hưng, làm quan trong triều đến chức Thượng thư, có công huy động dân chúng đào sông dẫn nước từ Bàu Láng ra sông Lam, tạo ra cả một cánh đồng với diện tích 220 mẫu cũng nằm trong bối cảnh chung đó. Toàn bộ vùng đất Bàu Láng xưa, nay đã được cải tạo, thành cánh đồng 2-3 vụ lúa trong năm, chỉ khi nước lũ lên cao thì vùng đất này mới bị ngập nước.

- Trong các tài liệu mà chúng tôi vừa nêu trên, không đề cập tới việc có hẳn cả một ngôi chùa với tên gọi là chùa Phú Thọ, nằm ngay cạnh đền thờ Bùi Tướng công, nhưng khi tiếp xúc với các cụ cao tuổi đang sống tại địa bàn xã Nam Tân, Nam Lộc và thị trấn Nam Đàn, các cụ lại khẳng định, có chùa Phú Thọ và tồn tại đến những năm 60 của thế kỷ trước, mới bị dỡ bỏ. Theo các cụ, trong chùa có nhiều tượng Phật, tăng ni Phật tử trong vùng vẫn thường đến lễ chùa và còn có cả nhà sư trụ trì ở chùa (?) Không rõ, hiện tượng chùa kiêm đền có từ bao giờ. Việc nghiên cứu về lịch sử xây dựng, cũng như sự tồn tại của ngôi chùa ấy cần có thêm thời gian, tư liệu để có thể trả lời một cách chính xác. Đền thờ Thái bảo Bùi Tướng công và chùa Phú Thọ không còn nữa, các tượng Phật cũng không còn, chỉ còn lại nền đất cũ, cùng 04 sắc phong, bài vị và một số đồ tế khí mà một số cụ cao niên vẫn giữ với mong muốn trong thời gian gần nhất, công cuộc khôi phục, trùng tu lại ngôi đền thờ Bùi Tướng công và cả chùa Phú Thọ sẽ được tiến hành, thể hiện sự tri ân của hậu thế đối với người có công khai phá vùng đất Bàu Láng, góp phần mang lại sự no ấm cho các thế hệ người dân nơi đây trong suốt nhiều thế kỷ qua./

Chú thích:

(1) Ngoài 4 sắc phong ở đền thờ Bùi Tướng công còn có 19 đạo sắc phong ở đền thờ Tống Tất Thắng (đền Thống Chinh), 6 đạo sắc phong tại đền Bản huyện Đặng Quý Đức, 7 sắc phong tại đền thờ Cao Sơn Cao Các, đều thuộc xã Nam Tân, Nam Đàn ngày nay. Ông Nguyễn Đình Sơn, Giám đốc Công ty TNHH Sơn Hảo, ở xã Nam Tân đã bỏ tiền thuê ông Trần Văn Hữu, cán bộ Hán Nôm, Ban quản lý Di tích và Danh thắng Nghệ An, phiên âm, dịch nghĩa toàn bộ các đạo sắc phong này. Phần phiên âm, dịch nghĩa các sắc phong tại đền thờ Bùi Tướng công mà chúng tôi sử dụng trong bài viết, đều do ông Hữu dịch.

(2)
Từ sau khi dập tắt phong trào Cần vương chống Pháp (1885-1986), nhằm ổn định tình hình chính trị, xã hội để triển khai công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914), chính quyền thuộc địa đã có sự điều chỉnh về địa giới hành chính một số phủ, huyện, xã thôn trên địa bàn Nghệ An. Theo đó, phần đất của Thanh Chương từ Chi Cơ (xã Nam Thượng ngày nay) đến xã Nam Kim ngày nay được cắt về Nam Đàn, còn phần đất từ Cầu Gang thuộc xã Thanh Khai đến xã Thanh Ngọc ngày nay, vốn là đất của Nam Đàn được cắt về Thanh Chương. Xem thêm: Nguyễn Văn Trương (chủ biên): "Nam Đàn xưa và nay", NXB Văn hóa thông tin, 2000 và nhiều tác giả: "Thanh Chương xưa và nay", NXB KHXH, Hà Nội, 2010. Do đó, đến năm 1924, thôn Phú Thọ, xã Lương Trường đã chuyển về Nam Đàn.

(3) Bản tài liệu này đã được Thư viện Nghệ An đem về trong kho tư liệu địa chí, phần tư liệu quý hiếm. Trong tập tư liệu mà ông Hữu chuyển cho các cụ cao tuổi ở Nam Tân lưu giữ, có tài liệu này.

(4), (5)
Việc vua Lê - chúa Trịnh tổ chức thi ở miền Tây Thanh Hóa, trong buổi đầu Trung hưng, nhằm tuyển chọn hiền tài đã dẫn đến một thực tế là ở nước ta lúc bấy giờ có hai nơi tổ chức thi: Nhà Mạc ở kinh thành Thăng Long, vua Lê ở Thanh Hóa, do đó vừa có Tiến sĩ nhà Mạc lại vừa có Tiến sĩ nhà Lê. Trong khi, Tiến sĩ nhà Mạc được khắc tên vào bia đá dựng ở Văn miếu Quốc tử giám, thì không ít Tiến sĩ dự thi thời nhà Lê ở Thanh Hóa ít được nhắc đến, đó là chưa nói tới các Hương cống (Cử nhân) buổi đầu nhà Lê Trung hưng thì lại càng ít được nhắc tới. Việc khảo cứu, xác định các Hương cống, Tiến sĩ đỗ thời Lê Trung hưng là người Nghệ An (bao gồm cả Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay) được Đào Tam Tỉnh, PGS Ninh Viết Giao, Thái Kim Đỉnh… và một số người khác quan tâm trong khoảng 15 năm lại nay, bước đầu đã xác định được một số nhân vật.

(6) Tham khảo: "Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX" (thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnh trở ra), bản dịch của Dương Thị The - Phạm Thị Thoa, do NXB Khoa học xã hội, Hà Nội phát hành năm 1981, trang 99-100.

(7) Tham khảo: Nguyễn Quang Hồng: "Địa danh - Di tích lịch sử văn hóa và lễ hội vua Mai ở Nam Đàn", NXB Nghệ An, 2013, phần viết về lăng miếu, đền thờ vua Mai ở thung lũng Rậm, núi Hùng Sơn.

(8) Tham khảo: Bùi Dương Lịch: "Nghệ An ký", Bản dịch của Viện Hán Nôm, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993; "Thanh Chương huyện chí", Bản dịch của Bùi Văn Chất, in trong sách: "Thanh Chương xưa và nay", sđd và Quốc sử quán triều Nguyễn: "Đại Nam nhất thống chí", phần tỉnh Nghệ An, tập 2, NXB Thuận Hóa - Huế, 1993.

(9) Khi dời dân vào chân núi để dành đất cho sản xuất nông nghiệp, người ta "quên" chuyển dời các đình, đền, chùa, miếu mạo… vào vùng đất mới, đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng không ít đình, đền, chùa, miếu mạo trên vùng đất này bị hoang phế, xuống cấp và biến mất trong khoảng 4 thập kỷ qua.

(10), (11) Có một nhánh con cháu dòng họ Nguyễn Đình đã tham gia khai phá vùng đất Bàu Láng và định cư trên đất Nam Tân ngày nay. Gia phả của nhánh họ này bị mất trong cải cách ruộng đất. Riêng dòng họ Bùi và dòng họ Phạm đã rời làng Phú Thọ đến làng Khoa Trường sinh sống, khi đi họ chuyển luôn cả nhà thờ họ cùng mồ mả ông bà tổ tiên đến vùng quê mới.


PGS.TS Nguyễn Quang Hồng (Thông tin KH-CN Nghệ An số 11/2013)
 Bản in  Lên đầu trang

TÌM KIẾM BÀI VIẾT
THƯ VIỆN ẢNH
           Việc họ xưa & nay
 Văn hóa dòng họ: Diện mạo và hướng đi
 Văn hóa dòng họ và dòng họ văn hóa
 Vai trò tộc trưởng xưa và nay khác nhau như thế nào?
 Nguyên tắc cúng, khấn, vái, lạy
 Gia phả và nhà thờ họ
           Truyền thống văn hóa
 Bàn về cách xưng hô trong gia đình
 Đám giỗ có vị trí quan trọng trong việc thờ cúng tổ tiên
 Để gia phả trở thành nhân tố tích cực trong việc phát huy truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam
 Gia phong xứ Nghệ
 Gia đình, dòng họ - những vấn đề cơ bản của văn hoá làng, xã Việt Nam
           Làng quê Việt Nam
 Trò vui dân gian ngày xuân thuở xưa và ý nghĩa nhân văn của nó
 Việc làng nước ngày xưa
 Cổng làng - hồn Việt xưa nay vương vấn...
 Đình làng - gương mặt kiến trúc cổ Việt Nam
 Kiến trúc làng Việt Nam
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BAN LIÊN LẠC HỌ BÙI NGHỆ AN
Email :
hobuinghean@gmail.com - Website : www.hobuinghean.com.vn
Trưởng ban liên lạc : Bùi Xuân Lương - Điện thoại : 0945.912.618
Phụ trách nội dung : Bùi Chí Nhân - Điện thoại : 0915.555.977

du học nhật bản tại tp vinh học tiếng nhật tại tp vinh du học nhật bản tại nghệ an học tiếng nhật tại nghệ an