Họ Bùi Nghệ An | Tản văn - Tuỳ bút | Bút ký: Đi một ngày đàng...!
 
Untitled Document
Bút ký: Đi một ngày đàng...!
Ngày cập nhật : 28/09/2014
HỌ BÙI NGHỆ AN | Xe qua cầu sông Chanh, tôi bồi hồi nhớ lại tuổi thơ của mình trên mảnh đất thân thương này. Ngày xưa, sông Chanh quê tôi không có cầu, muốn sang Hà Nam phải đi phà hoặc đi đò. Con đò nhỏ lướt nhẹ trên trên mặt nước trong xanh, trong đấy nhưng không thể nhìn thấy đáy sông, vì đây là con sông nước mặn, một nhánh của sông Bạch Đằng đổ ra vịnh Hạ Long. Tôi đưa mắt tìm lại cái quán của bà cụ bán hàng nước năm xưa...
Rằm tháng Bảy năm nay, ông Bùi Đức Thuận, Giám đốc Công ty Tân phú xuân, hẹn tôi dù bận thế nào cũng về Hà Nam (Quảng Ninh) quê ông dự lễ cúng rằm đức thủy tổ Tiên công Bùi Huy Ngoạn và tham dự hội nghị Hội đồng Gia tộc bàn việc mua lại đất xưa của tổ tiên, để mở rộngTừ đường. Dù thời gian này tôi khá bận, hơn nữa trong dịp cúng rằm cũng không muốn đi xa. Người đời có câu “Cúng quanh năm không bằng rằm tháng Bảy”. Không rõ thiên hạ quan niệm về ngày rằm tháng Bảy thế nào? Còn tôi nghĩ, rằm tháng Bảy là tập quán tín ngưỡng rất văn hóa của người Việt chúng ta. Không chỉ là dịp để con cháu tri ơn cha mẹ, ông bà tổ tiên, mà còn để mọi nhà san chút phúc lộc cho những vong hồn lang thang không ai hương khói quanh năm, những âm hồn ngày xưa do đắc tội ở chốn nhân gian, khi chết bị giam vào địa ngục, nay một ngày được trở lại dương gian. Như thế, đủ biết văn hóa tín ngưỡng của người Việt cao cả, thấm đẫm tình người dù cho âm dương đôi cõi. Bận thế và nghĩ thế, nhưng ông Bùi Đức Thuận mời thì tôi đã nhận lời. Hơn nữa, ông Thuận là người tôi rất quý vì đức tính vị tha gần gũi, ông thật như nắng ở đời, ấm áp mà chân thành, chói chang mà quyết liệt! Là giám đốc công ty nhưng mỗi khi gặp tôi, ông không kể chuyện làm ăn thua được. Mặc dù tôi biết Công ty ông cũng là một trong những công ty đã vượt qua “mùa bão tàn khốc” trong cơn khủng hoảng kinh tế thế giới từ năm 2008 đến nay, cũng như việc kinh doanh không dễ dàng gì ở xứ Hải Đông này.



Biết tôi phụ trách Ban phát triển Cộng đồng họ Bùi Việt Nam, ông muốn tìm hiểu thêm về cội nguồn tổ tiên của mình, vì có đôi chỗ còn đang băn khoăn. Với phong cách làm việc như vậy, khi đã bắt tay vào làm hoặc tìm hiểu cái gì cũng muốn được rõ ràng chính xác, chứ không thể rời rạc biết vụn vằn, theo lối hiểu nửa chừng đứt đoạn. Đối với tổ tiên, Bùi Đức Thuận là người tâm huyết, là lớp hậu duệ thứ mười sáu thuộc họ gốc Bùi xã Phong Hải, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, nghĩa là cụ thủy tổ cách ngày nay đã gần sáu trăm năm. Vậy mà khi bàn việc họ, nghe ông nói cứ như những việc đang nóng mới sảy ra ngày hôm qua. Không chỉ với những việc đã công đức đáng ghi nhận đối chi họ thứ ba, thuộc họ Bùi Phong Hải di cư lên Kinh Môn đầu thế kỷ thức 18 nơi gia đình ông đang ở, mà đối với họ Bùi xã Phong Hải - Hà Nam quê hương gốc tổ, cũng đã có những đóng góp quan trọng kể cả tinh thần và vật chất. Nhân dịp này, ông mong muốn làm được nhiều hơn nữa, cũng như trông đợi sự đồng thuận sâu sắc, nhiệt tình và quyết tâm tất thảy của mọi bà con trong họ. Ông cho rằng, đã là họ tộc thì không phân biệt giàu nghèo, dù bà con chưa có điều kiện, có thể chỉ đóng góp được một đồng, nhưng phải xem đó là tâm nguyện, là lòng thành kính với tổ tiên, để góp vào xây dựng nâng cấp nơi thờ tự và mồ mả ông cha ngày càng khang trang bền vững. Vì lẽ đó, hôm nay ông đã trình bày một cách thẳng thắn, cụ thể với bà con, hãy quyết tâm làm bằng được những việc Hội đồng Gia tộc đã đề ra, để khơi dậy lòng tự hào trong dòng họ. Đó là cách tốt nhất để tri ơn tổ tiên, động viên mọi người tiếp bước theo gương sáng tiền nhân, tiếp tục mở mang khai sáng cho các thế hệ con cháu kế tiếp, tự hào phấn phấn đấu vươn lên, nguyện mãi mãi xứng đáng với dòng họ Tiên công quý hiển; xứng đáng với danh thơm là dòng họ có đức thủy tổ là bậc danh thần được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Đó cũng là lòng nhiệt thành của ông Thuận, khi mời tôi về dự lễ cúng rằm tại Từ đường thờ đức Tiên công Bùi Huy Ngoạn và dự Hội nghị với họ.
 

Ban thờ viễn tổ họ Bùi tại thôn Tử Lạc, Kinh Môn, HD

Đêm Kinh Môn và vầng trăng rằm huyền thoại

Xe ông Thuận đón tôi từ thị trấn Phú Thái, Hải Dương. Con đường về huyện trải nhựa êm ru, khi chiều xuống chỉ còn vạt nắng đầu thu yếu ớt lọt qua những vách núi đá vôi, lô nhô trên cánh đồng xanh biếc phẳng lặng, nơi có dòng sông Kinh Thầy như nguồn sữa trắng từ núi mẹ đổ về tạo ra bức tranh sông núi vừa liêu trai, vừa thủy mặc của vùng đất cổ. Trong không gian đẹp đến mơ màng, tôi chợt nhận ra, núi đá Kinh Môn có những nét rất riêng biệt. Các ngọn núi không liền mạch, núi nào cũng đứng sừng sững độc lập, nhưng lại tạo thế gắn kết đan cài vào nhau giống như một thành quách vững vàng. Chắc dựa vào lợi thế tự nhiên như trận đồ bày sẵn tại đây, vào đầu thế kỷ 18 quân Pháp sang xâm lược nước nước ta, thủ lĩnh Đốc Tít đã làm cuộc khởi nghĩa chống Pháp tại đây. Cuộc chiến đấu diễn ra gan góc kiên cường liên tục mấy năm, quân Pháp nhiều lần thua trận, xác chết đầy đồng. Cuối cùng, chúng đã huy động một lực lượng lớn, trang bị mạnh, chia nhiều hướng đánh chiếm. Nghĩa quân Đốc Tít mỏng, lương thảo thiếu thốn không trụ được, nên hầu hết nghĩa binh đều tử trận. Thủ lĩnh Đốc Tít bị quân Pháp bắt. Chúng thuyết phục ông đầu hàng không được, chúng đưa ông qua Pháp rồi giam đi biệt tích. Núi đá vôi tự thân nó đã đẹp một cách thâm nghiêm, trầm mặc. Chả thế mà những nhà chơi non bộ luôn chọn những mảnh đá, khối đá có hình dáng đẹp tự nhiên, thế đứng quân tử hoặc hang động huyền bí về đắp điếm tạo dựng cho mình một hòn giả non nào đó để ký thác tâm hồn vui buồn trắc ẩn vào đó, chứ ai đắp núi đất gò đống bao giờ! Thật tiếc, vùng núi đá Kinh Môn đẹp hoang dã, trầm mặc đến mơ màng, giờ đang bị thương tích đầy mình. Mảnh đất này sao lắm nhà máy xi măng đến thế, các loại công nghệ về xi măng ở đây được phô diễn đầy đủ, tập trung về đây đông nhất cả nước thì phải! Nhan nhản các loại xi măng lò đứng, lò ngồi, nhà máy to, nhà máy nhỏ san sát kề nhau. Các công ty khai thác đá ùn ùn cung cấp cho các nhà máy xi măng, công trình xây dựng, đường giao thông và hàng trăm thứ nhu cầu xây dựng khác đang thi nhau xóa đi từng quả núi, tất cả đang hiện diện trong cơn lốc đồng tiền, để rồi không biết bao nhiêu ngọn núi đẹp còn lại kia, đã có tên “trong danh sách bản án tử hình dành cho nó!”

Vửa về đến nhà, ông Thuận đã mời ông Vũ Văn Khang người hàng xóm thân cận sang trò chuyện với tôi. Ông Khang vốn là sinh viên Khoa sử, đại học Tổng hợp Hà Nội những năm bảy mươi của thế kỷ trước. Hồi đó, ông nhập ngũ vào Sư đoàn 324, một trong số đơn vị trấn giữ Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Nhìn người lính già qua thời trận mạc, tôi nghĩ, bác này may thật! Ở cái nơi gió tanh mưa máu ấy mà sống sót lành lạnh trở về quả là cũng hiếm. Vì đã từng là lính nên tôi biết mảnh đất chết người gọi là Thành Cổ Quảng Trị. Nó là nơi đối đầu, đọ sức mạnh của hai thể chế chính trị lúc đó, như người ta vẫn nói “ai thắng ai!”. Mà thói đời đã là đối đầu, khảng định sức mạnh thì hai bên phải phải tỏ rõ bản lĩnh, mưu sâu kế hiểm, thi thố đến tận cùng tài năng và trí tuệ, mang ra sử dụng những loại vũ khí hiện đại nhất, tốt nhất lúc đó. Cái gì tốt và hiện đại nhất trên đời này mang ra dùng thì hữu ích cho đời, là cứu cánh. Còn cái món vũ khí hiện đại nhất và tối tân nhất mà mang nó ra thi thố thì…! Ông Vũ Văn Khang kể cho tôi nghe về nhưng vấn đề lịch sử ông đang băn khoăn, về những di tích lịch sử mà ông đã có thời được chạm tay vào nó và sau cùng là sự nuối tiếc không có cơ hội theo học trọn vẹn ngành từng mơ ước. Ông thoáng chút trầm tư, chứ thực ra ông đang nói với tôi về sử, những triều đại, những địa danh, nhân vật và con người ông đang kể về, thậm chí là sử rất sinh động cả trong dân gian. Tôi nghĩ, sử đâu chỉ ở những cuốn sách dày và mấy bài trẻ con phổ thông không muốn học. Có người vỗ ngực thao thao, tưởng mình đang chép sử mà thật ra là đang xóa sử, vừa đi vừa xóa lịch sử cũng không biết chừng. Lại có người thấy lòng mình nghĩ thế thì miệng thốt ra thế, chả quan điểm quan điếc gì, vậy mà những điều họ nói ra vẫn rất lịch sử. Lịch sử là những gì rất thật mà cũng rất lắt léo, hiểu nó khó, đọc thì dễ, thuộc rồi mang ra chép lại càng dễ. Phải lấy lòng ra mà đo, phải có trí tuệ sáng láng và cân bằng để mà nhận đúng nó. Lich sử dân tộc chính là đời sống của dân tộc đó, giống như một tảng băng đang trôi ngoài khơi, cái phần nổi dù lớn đến đâu cũng chưa là bao so với phần chìm trong nước, phần chìm trong nước chính là phần lịch sử đang nằm trong trí nhớ của nhân dân, cái đó mạnh hơn, lâu bền hơn mọi bộ sử đã có và sẽ có.

Đêm Kinh Môn, cũng là đêm trăng rằng tháng Bảy đầu tiên trong cuộc đời phiêu bạt, tôi ngủ lại nhà ông Bùi Đức Thuận. Ông bà chu đáo, dành cho  căn phòng đẹp nhất của ngôi biệt thự đường bệ có mặt tiền là con đường nội tỉnh, ì ầm xe cộ suốt đêm. Phía sau ngôi nhà nhìn ra xa là những ngọn núi đá vôi sừng sững phong sương thủy mặc dưới trăng ngà. Tôi mở cửa phòng, ánh trăng rằm mười bốn ùa vào giữa không gian và cảnh vật hòa quyện bao quanh, tạo nên vẻ đẹp thăm thẳm trầm tư, lãng mạn đến u hoài. Trăng sáng quá, ánh trăng của miền đất cổ hình như nó vẫn vẹn nguyên, tự nhiên và bản thể, chả có gì phải vướng bận với những cái mà con người đang hối hả sống gấp gáp ngoài kia. Trăng soi óng ả trên dòng sông Kinh Thầy, sông Bạch Đằng, sông Giá. Nhìn từ trên cao, những con sông đó êm đềm như dòng sông bạc đang trôi giữa cánh đồng mênh mông, giữa lớp lớp mái nhà đang ngủ yên lằng lặng dưới sương thu. Chỉ còn có gió cùng trăng mê mải đổi nhau giữa khôn cùng trời đất, của không gian vút mờ sương khói, khiến ta không thể cầm lòng.

Sáng rằm, con trai cả ông Thuận đưa chiếc xe mới cứng, rất đẹp (khổ nỗi, tôi chả biết tên cái xe đó là gì, bởi toàn chữ Tây!) chở chúng tôi đi về Hà Nam - Phong Cốc quê gốc của ông. Cùng đoàn còn có thêm xe ô tô của ông Bùi Văn Mến và các vị khác. Trong xe ngồi cùng tôi có vợ chồng ông Bùi Văn Chấn, vợ là nhà giáo, hậu duệ của dòng họ này. Nhìn lên mấy ngọn núi đá vôi đã bị phá nham nhở. Bất chợt tôi hỏi – Liệu trên các ngọn núi kia còn khỉ sống ở đó không? Ông Chấn tâm trạng kể . – Trước đây thì nhiều, nhiều đến nỗi người dân trồng gì cũng phải trông coi cẩn thận, nếu không làm ra là “biếu cụ khỉ cả!” Giờ tịch, không thấy con nào. Những người giỏi bắt khỉ vùng này nay đã tứ tán khắp nơi. Vài năm trước ở đây còn một bầy khỉ rất khôn, không ai bắt nổi. Người thợ săn làm lưới làm bẫy, bỏ khoai ngô lừa nó vào ăn để sập lưới, bầy khỉ hè nhau kéo lưới vứt đi, thảnh thơi vào đánh chén, chả sợ gì nữa. Người thợ săn vừa tức, vừa như muốn tận diệt đến cùng bầy khỉ trêu ngơi này, họ đã nghĩ ra nhiều cách khác để bẫy bắt và cuối cùng vẫn thua bầy khỉ “có trí khôn” do con người truy bức chúng. Nghe câu chuyện tôi thoáng buồn, lại thêm một bản thể tự nhiên biến mất trong cõi phù du. Giờ thì đã không ai còn nghe thấy tiếng khỉ, núi vẫn đó mà hình như đã cô đơn, vì đã xa rồi cái thuở khỉ rung cây ào ạt như tiếng nhạc rừng. Trong bóng núi lung linh mỗi khi chiều về, ta đâu còn thấy bóng một loài vật thân thiện với con người, ở xứ sở mà nó đã xuất hiện trước cả con người tại nơi đây.

Xe chạy một mạch đến thi xã Quảng Yên quê tôi. Chúng tôi vào nhà thầy Bùi Đức Lãm là giảng viên – cán bộ quản lý của trường Đảng Nguyễn Văn Cừ tỉnh Quảng Ninh. Ông đã nghỉ hưu và vừa đi thăm thân con cháu ở Hoa Kỳ về. An em gặp nhau lần đầu, mà đã thân thiết lạ thường, khi nhận ra nhau bởi một chữ BÙI. Tôi hỏi ông - Thầy đi sang xứ Tư bản thấy đất nước họ thế nào, dân sống được không? Ông cười, cái cười của một người trí thức hiểu ngay ngầm ý câu hỏi, nhưng ông vẫn khoan thai, từ tốn khi vào chuyện. – Họ hỏi thôi nhiều thứ, thậm chí là còn có một số người tỏ ra chê bai, thù oán chế độ. Khi biết tôi làm thầy của một trường “ dòng”, họ cũng so sánh phê phán đấy. Nhưng mọi phê phán chê trách của họ cũng chỉ là thứ kiến thức bàn trà, lõm bõm chứ không có căn bản gì. Còn nói về mức sống của họ như người ta vẫn ca ngợi như một tiêu chuẩn Mỹ để so sánh, thì phải nói đến cả hai mặt, cái tiến bộ và sự ngộ nhận, chứ không nên hiểu nước Mỹ tròn trĩnh quá, cái gì cũng hoàn mỹ cả đâu. Mỹ cũng không thiếu người ăn xin, Mỹ cũng không thiếu những khu ổ chuột, v.v. Mỹ khá về kinh tế, vì là một quốc gia đa chủng tộc, đã có tuổi đời trên hai trăm năm, họ rảnh tay làm khoa học và kinh tế, sau cuộc chiến tranh nội bộ Nam – Bắc ở thế kỷ 18 được dàn xếp, họ không bị bất kỳ một sự xâm lấn của quốc gia nào. Môi trường đó là hoàn toàn lý tưởng cho phát triển kinh tế và lo an sinh xã hội. Ấy vậy mà nước Mỹ đâu thiếu bất công và tệ nạn. Cái nhân quyền họ nói nhiều nhất, nhưng vai trò phụ nữ được quyền bầu cử cũng mới được luật hóa vài thập thập niên nay. Rồi thi thoảng ta nghe đâu đó ở vài trường học của Mỹ lại bị kẻ điên loạn xả súng giết thầy, giết trò, năm mười người chết hay bị thương là chuyện thường. Còn nước ta, đã bao giờ có lấy vài trăm năm yên hàn không giặc giã. Hết Tàu thì Tây, độc các kẻ sừng sỏ đếm xâm lược. Sau mỗi cuộc chiến tranh đó, nước mình hoàn toàn kiệt quệ, cả nhân tài và vật lực. Cái được là dân tộc tồn tại, Nước nhà độc lập, giang sơn thu về một mối. Nếu mang hai đời sống của người Việt Nam và Mỹ để so sánh với nhau về mức sống là khập khiễng, không có căn bản, đó là thực tế lịch sử không ai có thể bác bỏ. Thấy bọn tôi chăm chú, ông nói tiếp – Chuyến đi không dài, nhưng tôi đã tiếp xúc với nhiều người cả Việt và Mỹ. Trong số họ có người chỉ vừa rời khỏi quê nhà dăm ba tháng, tiếng Việt trôi chảy rành mạch, lại có người giọng đã lơ lớ, khó khăn tìm chữ, một câu tiếng Việt kèm mấy câu tiếng Tây. Có người còn nhớ từng bậc đá trước cửa từ đường họ mình, lại có người chỉ biết trong mình đang có dòng máu Việt chảy mà chả biết quê cha đất tổ là đâu. Người quen ăn cơm bằng đũa, người không biết cầm đũa, ăn phải cầm dĩa cầm dao. Có người sung sướng với vị chát của chè Thái, thèm một ngụm nước vối rồi rít một điểu thuốc lào Tiễn Lãng, lại có người chỉ quen với rượu whisky và rít xì gà, mọi thứ khác đều xa lạ, đều nhắm mắt, lắc đầu.

Sau một hồi hàn huyên, thấy tôi chân thành nhưng rắn rỏi, sòng phẳng mà không cách biệt. Có thể họ nhận ra đây là một vị “sứ giả” chân quê, chỉ nói những điều rất trung thực về nhân tình thế thái, nên từ khác biệt họ trở nên thân thiện, và đồng cảm theo cách của người Việt với nhau. Thú thật, lúc này tôi mới nhận ra từ họ vừa có cốt cách của người Việt cổ lại vừa có cốt cách của người Việt tương lai. Lại như từ họ, những kiếp người ấy, mà thấy hiện ra bao nhiêu chìm nổi, bao nhiêu buồn tủi, đa đoan, biết bao nhiêu quả cảm, biết bao nhiêu cứng cỏi và thủy chung nghĩa khí. Đó là những cốt cách của người Việt Nam bền vững và dẻo dai, cái gia sản duy nhất mà họ kịp mang theo trên những dặm đường xa tuyết rơi gió thổi, những gì mà quê nhà lam lũ đã kịp dành dụm đặt vào tay những đứa con của mình trong buổi ra đi.

Họ là những con chim Lạc đàn còn biết lưu lại dấu vết chân mình trên tang trống đồng cổ tích, là những con chim Lạc lúc vỗ cánh bay đi trăm ngả vẫn còn biết để lại bóng dáng mình ở lại với quê hương.

Nghe ông nói, tôi thật sự xúc động. Đúng là một người thầy uyên thâm và nhân cách, đi “sứ mà không hổ mặt vua.” Vâng, giá như, lại giá như bởi mong ai đó khi đi ra nước người cũng có được cái cốt cách đàng hoàng, thì lo gì người Việt chúng ta lại không được bạn bè thế giới nể trọng; lo gì người Việt ở đâu đó trên thế giới này còn có một số ít bà con chúng ta nghi ngại, thậm chí là vài người quá khích chống lại quê hương, chỉ bởi một lẽ giản đơn, họ còn bị quá khứ đè nặng, bởi mặc cảm và không đủ thông tin về quê nhà. Thứ nữa, có thể ta đã thiếu đi một bàn tay chân thành, lương thiện nhóm lại lửa Việt trong lòng họ. Tôi thầm kính trọng ông, đúng là một người thầy với đầy đủ giá trị vi sư tải đạo, cái giá trị đích thực, bản lĩnh mực thước của nhà giáo, chính là mảnh đất gieo mầm thiện cho đời. Có lẽ vì thế nên dù đã nghỉ hưu, bà con nơi đây vẫn quen gọi ông với cái tên thân thiện – Thầy Lãm!

Ngày rằm tháng bảy ở từ đường đức Tiên công Bùi Huy Ngoạn


Từ sáng sớm ngày rằm tháng Bảy, từ đường đã tấp nập đông đủ các cụ, bà con xa gần về tề tựu đông đủ. Trên ban thờ Thủy tổ và các ban thờ theo ngôi thứ Tiên liệt, cỗ bàn sang trọng uy nghiêm được dâng lên kính cáo với tổ tiên thượng hưởng. Tôi không nghĩ cúng rằm mà bà con về đông đủ đến thế. Kể cả những người họ hàng đi làm ăn xa, hoặc đã định cư ở nơi khác, trong đó có vài vị ở nước ngoài về thăm quê cũng có mặt cáo yết và xin lộc tổ tiên. Nhìn vào nghĩa cử ấy, ta thấy hồn quê chả bao giờ phai nhạt và thiếu vắng trong lòng họ, vì nó là ý thức, là trách nhiệm, là dòng máu đào, là ngọn nguồn trong mỗi con người, cho dù  ai đi đâu về đâu thì quê hương bản quán vẫn là nơi một cõi đi về. Cũng trong dịp cúng răm này, đã có vài gia đình cung tiến vào nhà thờ họ những bộ sập bằng gỗ quý có giá trị cao, góp phần làm cho từ đường thêm uy nghiêm và kính ngưỡng.
Sau khi ông Bùi Văn Tuất thay, mặt cho Hội đồng Gia tộc công bố lễ cúng tổ, không khí nhà thờ như chùng xuống, tiếng chiêng trống đổ dồn vang lên theo nghi thức tế lễ vọng sâu vào cõi tâm linh. Các tuần lễ dâng rượu và kính cáo tổ tiên, lần lượt diễn ra chậm rãi thành kính, làm cho con cháu như có được những phút giây gần gũi dưới chân đức tổ của mình. Trang trọng và thành kính, người đọc văn cúng giọng trầm ấm, chậm rãi xướng lên tên các vị liệt tổ, liệt tông. từ đức thủy tổ đến các cụ chi nhánh, đã làm cho con cháu xúc động như nuốt lấy từng lời, trong hương thơm nhẹ tỏa từng vòng bao bện lấy mọi người.

Kết thúc phần nghi lễ cáo yết tổ tiên. Ông Bùi Văn Tuất công bố nội dung cuộc họp là, mua lại đất xưa của vườn Từ đường, do hoàn cảnh khó khăn ở lúc cơ trời vận nước, Họ đã phải nhượng đi một phần đất của từ đường. Nhưng may là đất đó nhượng cho con cháu dòng họ, nay gia đình chủ đất muốn bán lại cho họ, để tổ chức chỗ ở mới. Đề nghị Hội đồng Gia tộc bàn bạc, ra quyết định mua lại mảnh đất đó, để mở rộng Từ đường. Tôi nghĩ đây là vấn đề nan giải, vì nghe giá ban đầu cỡ 2, 2 tỷ chưa có thêm bớt. Một số tiền không nhỏ so với bà con họ mạc vùng quê, không phải là nghèo, nhưng cũng chưa phải đã khá giả. Sau khi ông Tuất công bố và mời ông bà Bùi Thế Tự (chủ đất) cho ý kiến về việc nhượng lại đất cho họ. Ông Tự nói - Tôi quyết định bán cho họ, với giá 2, 2 tỷ. Công đức vào nhà thờ 100 triệu. Những tưởng phải bàn bạc nhiều, thậm chí là  sẽ có người đưa ra không ít khó khăn, hoặc thêm bớt. Vì đã ai biết đâu là giá mềm, giá cứng! Nhất là mảnh đất đó lại nguyên là mảnh đất của nhà thờ tổ trước đây. Nhưng không, cả Họ nhất trí ngay! Cái nhất trí không một ai nói về giá cả cao thấp. không một ý kiến cò kè. Chắc mọi người nghĩ, lọt sàng xuống nia, người trong nhà cả đi đâu mà thiệt! Nhưng tôi nhận ra sự gạn ngùng đâu đó, trong phút lặng im về cái sự nhất trí như còn ngấm sâu nỗi trăn trở về một thời xô lệch ngậm ngải đã qua. Nghĩ là vậy, còn điều mừng vẫn trên tất cả, bởi đây là cơ hội vượt lên quá khứ, để rồi ngày mai thôi, mảnh đất tiên tổ để lại lại về dưới bước chân thơm thảo của tổ tiên. Đó cũng là cách con cháu bước qua thời lận đận, một cách mà hậu duệ hôm nay đang làm để chuộc lỗi với tổ tiên mình, nhất là khi Từ đường dòng họ đã là Di tích lịch quốc gia. Và lập tức Ông Bùi May đã đóng góp 50 triệu đồng và còn nhiều người khác tham gia, 20 triệu, 10 triệu, vv... Vui nhất, người đóng góp đầu tiên, lại người là nói – “Bàn ít thôi, sự thể nó thế, hãy đóng góp!”  Tất nhiên, phải kể đến các nhà Mạnh thường quân đã có “hộ ý” trước, như các ông Bùi Đức Thuận, ông Bùi Huy Minh nhà doanh nghiệp còn khá trẻ, đã có mặt trong buổi lễ với thái độ khiêm nhường, nhưng tiềm ẩn lòng nhiệt huyết cao. Trong không khí ồn ào, tôi nhận ra ông Bùi Chu Giang, cầu thủ bóng đá của đội Than Quảng Ninh. Một đội đã từng vang bóng một thời ở miền Bắc vào những năm trước đây. Giờ ông không còn nhanh nhẹn do tuổi tác, nhưng đức tính thì vẫn vậy, vẫn thẳng băng như một pha bóng. Ông nói - “ Tôi hưu trí, xin đóng 10 triệu. Mong mọi người đã đến đây ít nhiều đều đóng, đừng ai về không!” Là Trưởng ban phát triển Cộng đồng họ Bùi Việt Nam. Tôi đã có không ít dịp được dự các buổi họp bàn về chuyện đất cát của nhà thờ họ, nhưng khó khăn và nan giải, phức tạp nhiều hơn. Còn ở họ Bùi Phong Hải, Quảng Ninh, do công tác chuẩn bị của Hội đồng Gia tộc chu đáo, khảo sát kỹ càng, đã có ý kiến của các nhà tài trợ then chốt làm chỗ dựa, nên việc bàn bạc thống nhất khá suôn sẻ. Đây là cách làm tốt, vừa tập trung được ý chí đồng thuận của cả họ, vừa động viên được người bán vui vẻ tỏ rõ trách nhiệm với cha ông, lại thu hút được những nhà tài trợ đảm đương lớn, thậm chí là mang tính quyết định cho công việc này, nhưng vẫn bảo đảm sự bình đẳng trong họ tộc. Nhưng sẽ là chưa đủ, nếu để thiếu đi một tiềm năng nữa. Một số nhà tài trợ lớn hôm nay, hãy coi họ là khởi đầu, là mở ra một chương mới trên con đường phát triển, xây dựng cơ sở vật chất của họ. Họ Bùi Phong Hải hoàn toàn có quyền tin cậy vào sức mạnh tiềm tàng của trên ba ngàn suất đinh, trong đó không ít người thành đạt, mạnh về kinh tế, có vị thế trên thương trường, cả trong Nam, ngoài Bắc và ở nước ngoài. Tôi nghĩ đó chính là sức mạnh để Hội đồng Gia tộc họ Bùi Phong Hải hôm nay, tiếp tục có những cơ sở để  quyết định thành công mọi việc lớn của họ. Là Trưởng ban phát triển Cộng đồng họ Bùi Việt Nam, tôi tin tưởng sâu sắc, với ý định của họ vào tháng Chạp năm nay, tổ chức lễ tế Tổ, nhất định họ Bùi Phong Hải sẽ tự hào cáo yết tổ tiên, là con cháu lớp  hậu duệ hôm nay, đã làm được một việc lớn, qua bao năm trăn trở.

Chút hoài niệm bên dòng sông Chanh

Người xưa nói “đi một ngày đàng học một sang khôn”, cấm có sai. Trong chuyến đi này tôi có dịp nhận ra nhiều điều mới lạ, bởi trong thiên hạ không thiếu những điều để học. Nhất là việc họ, khi đã kết nối thành một Cộng đồng lớn, thì vấn đề tổ chức luôn luôn phải là một vấn đề được đặc biệt quan tâm. Bởi, kinh nghiệm tổ chức làm việc của họ này, có khi lại là bài học giúp họ kia , khi nó đã được đúc kết, tự nó sẽ có sức mạnh tồn tại và lan tỏa. Tôi nghĩ, vào một ngày  không xa, khi trở lại nơi đây, sẽ thấy một cơ ngươi đường bệ, thoáng rộng và thiêng liêng của họ Bùi Phong Hải khác với bây giờ.
 


Xe qua cầu sông Chanh, tôi bồi hồi nhớ lại tuổi thơ của mình trên mảnh đất thân thương này. Ngày xưa, sông Chanh quê tôi không có cầu, muốn sang Hà Nam phải đi phà hoặc đi đò. Con đò nhỏ lướt nhẹ trên trên mặt nước trong xanh, trong đấy nhưng không thể nhìn thấy đáy sông, vì đây là con sông nước mặn, một nhánh của sông Bạch Đằng đổ ra vịnh Hạ Long. Tôi đưa mắt tìm lại cái quán của bà cụ bán hàng nước năm xưa. Đối với tôi, cái quán quê là dấu mốc của tuổi thơ, là bao nhiêu kỷ niệm vui buồn của lũ con trai nghịch ngợm và trốn học như ranh. Nhưng quán đó đâu còn, người xưa đã đi xa! Mảnh đất ấy, giờ người khác đã xây một cái biệt thự to lừng lững, nghe nói của một vị quan gì đó quyền hành gớm ghê lắm. Cuộc sống càng mang nặng cảm giác mắc nợ. Nợ đời, nhìn ra tất cả đều đã lấm láp. Đêm nằm trằn trọc mong một dịp nào đó để tìm lại dấu xưa, giờ đang đứng trước cái điều mong ước ấy, thì nó đã quá vãng xa xôi chả bao giờ còn nữa. Thói đời lạ thế, cái quán có là gì, bé tí liêu xiêu, nay là căn nhà to vật vã thay thế cái quán hiền hiện trước mặt mà vẫn thấy lạ lẫm vô hồn. Trong tôi, vẫn bóng dáng bà cụ già móm mém nhai trầu như cụ tiên, với câu nói “ - Chết chửa, mấy thằng ranh lại trốn học hả?”. Vừa nói bà lão vừa mau mắn xếp những quả thị chín vàng thơm nức lên mặt chõng, cái xe ngựa chở khách lóc cóc gõ xuống mặt đường, bóng nắng lọt qua tán lá bàng xanh rì chiếu trên mặt chõng loang lổ, vừa thanh bình vừa đau đáu thân thương. Hình như từ đâu đó xa vời vọng về âm thanh của thời gian, ngưng đọng the thắt trong tôi, mơ về một thời xa xưa thăm thẳm bóng người trên mảnh đất sông quê đầy nắng gió này. Để hôm nay thay vào dáng xưa, là những con phố dài rộng sinh sôi, những mái nhà nửa ta nửa Tây, san sát mái vòm mái vẩy, vương miện cong cong cái nhọn cái tù, tất cả như một sự đua tranh để bắt nhịp với cái mới, mà rất có thể chả ai biết rồi tới đây người đời sẽ còn vẽ ra những hình thù kỳ quái gì so với mái đình cổ kính phong sương kia. Có thể tôi là người hoài cổ, chẳng theo kịp “cái nháy chuột thời bây giờ!” Nhưng tôi chẳng thể nào chối bỏ cái lễ nghĩa ngày xưa, bởi nó lương thiện và hiền lành quá. Chắc nó là văn hóa, là nhân cách và lề thói trật tự xã hội, nó không giống mấy cô gái rất trẻ kia, lại mặc quần đùi bá vai bá cổ bạn trai, đi đứng bạt mạng, nói năng oang oang giữa phố. Trong cái ồn ào phố thị quê tôi, không phải đã mất hết những giá trị trường tồn. Hai cây lim giếng rừng có tuổi đời không dưới ngàn năm tuổi, nó thuộc lớp những cây lim cùng lứa khi giặc Nguyên Mông sang cướp nước ta, năm 1288 Trần Hưng Đạo đã cho quân dân chặt làm trận địa cọc đóng xuống dòng sông Bạch Đằng, để làm trận tử chiến kết thúc số phận bi thảm và nhục nhã của quân thù. Nay hai cây lim vẫn xanh rì, tỏa bóng mát cho bầy trẻ nhỏ vui chơi. Giá trị trường tồn ấy, sao mà linh thiêng cao quý, sức mạnh cội nguồn khiến lòng ta không khỏi bâng khuâng mỗi khi có dịp qua mảnh đất thấm đẫm nhân văn và năng động trong cuộc sống gấp ngáp của người dân hôm nay.

Bùi Hoa Nam
 Bản in  Lên đầu trang

TÌM KIẾM BÀI VIẾT
THƯ VIỆN ẢNH
           Việc họ xưa & nay
 Văn hóa dòng họ: Diện mạo và hướng đi
 Văn hóa dòng họ và dòng họ văn hóa
 Vai trò tộc trưởng xưa và nay khác nhau như thế nào?
 Nguyên tắc cúng, khấn, vái, lạy
 Gia phả và nhà thờ họ
           Truyền thống văn hóa
 Bàn về cách xưng hô trong gia đình
 Đám giỗ có vị trí quan trọng trong việc thờ cúng tổ tiên
 Để gia phả trở thành nhân tố tích cực trong việc phát huy truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam
 Gia phong xứ Nghệ
 Gia đình, dòng họ - những vấn đề cơ bản của văn hoá làng, xã Việt Nam
           Làng quê Việt Nam
 Trò vui dân gian ngày xuân thuở xưa và ý nghĩa nhân văn của nó
 Việc làng nước ngày xưa
 Cổng làng - hồn Việt xưa nay vương vấn...
 Đình làng - gương mặt kiến trúc cổ Việt Nam
 Kiến trúc làng Việt Nam
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BAN LIÊN LẠC HỌ BÙI NGHỆ AN
Email :
hobuinghean@gmail.com - Website : www.hobuinghean.com.vn
Trưởng ban liên lạc : Bùi Xuân Lương - Điện thoại : 0945.912.618
Phụ trách nội dung : Bùi Chí Nhân - Điện thoại : 0915.555.977

du học nhật bản tại tp vinh học tiếng nhật tại tp vinh du học nhật bản tại nghệ an học tiếng nhật tại nghệ an