Họ Bùi Nghệ An | Tản văn - Tuỳ bút | Tôi đi nhận họ - Tùy bút Bùi Hoa Nam
 
Untitled Document
Tôi đi nhận họ - Tùy bút Bùi Hoa Nam
Ngày cập nhật : 23/01/2015
HỌ BÙI NGHỆ AN | "Khi tôi được mặc tấm áo nhà binh, nghĩa là đã trở thành người lính trong Quân đội ta. Ấy cũng là lúc được đi đây đi đó, khi được ngồi nhờ máy bay bay vèo vèo trên trời, lúc lướt trên biển, lúc xuôi Nam ngược Bắc, mới vỡ lẽ ra rằng đất nước mình đâu có nhỏ" - Bài viết nhân kỷ niệm 10 năm ngày thành lập BLLLT nay là BCHCĐHBVN (19/5/2004 – 19/5/2014)
Khi tôi được mặc tấm áo nhà binh, nghĩa là đã trở thành người lính trong Quân đội ta. Ấy cũng là lúc được đi đây đi đó, khi được ngồi nhờ máy bay bay vèo vèo trên trời, lúc lướt trên biển, lúc xuôi Nam ngược Bắc, mới vỡ lẽ ra rằng đất nước mình đâu có nhỏ. Nó rộng lớn mênh mang thăm thẳm tới tận chân trời và đẹp không thua kém bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới mà tôi đã có dịp ghé qua. Thực tế, đã làm thay đổi hẳn lối nghĩ nhỏ hẹp khi tôi còn là một thanh niên lam lũ ở quê mình.

Ngẫm lại đôi khi thấy vui, nhất là mỗi khi ông giáo già dạy địa lý cầm cái thước kẻ đen thủi, chậm rãi chỉ vào cái bảng đen đã tróc sơn nham nhở có gim lên đó tấm bản đồ Việt Nam bé tý tẹo, gầy gò xương xẩu, lại ngoằn ngoèo hình chữ S, bám vào cái vũng biển dài xanh lè lè như mắt mèo trong sách giáo khoa thuở học trò. Ấy cũng là lúc tôi được tiếp xúc với nhiều người ở mọi vùng quê khác nhau, thôi thì dân có, cán bộ có, cơ quan, chiến sĩ có, người ở mọi cấp mọi ngành đủ cả. Nhất là những người làm cán bộ với nhiều chức vụ to nhỏ khác nhau, hầu hết họ đều ra dáng một ông quan đề huề đạo mạo, xem thế đủ biết làm quan sướng thật! Cứ tưởng trong số họ sẽ có người họ Bùi, ai đời họ đều mang họ Nguyễn, họ Trần, họ Lê, họ Phạm v. v… Có anh cán bộ ở tận mạn Lai Châu vùng núi cao chót vót, toàn rừng xanh thăm thẳm, thưa người lắm, lại mang cái họ nghe khá lạ tai, Tèn Văn Tịt mà làm to đáo để. Lúc này tôi mới thấy mình “đơn độc”, lạc lõng giữa chốn ba quân. Chả nhẽ cả nước có mỗi nhà tôi là họ Bùi? Nghĩ thế nghe chờn chợn(!) Một hôm có anh họ Trần nói với tôi - Tớ cũng đi nhiều nơi, nhưng chả mấy khi gặp ai mang họ Bùi. Nghe đâu bên Tiểu đoàn 7 có một anh làm đến chức cũng “kha khá” là người họ cậu,  nếu muốn tìm người cùng họ, sang đó tìm chắc gặp. Tôi bấm bụng, có thế chứ!

Rồi cơ hội cũng đến. Hôm ấy là ngày tết Nguyên đán của hơn bốn mươi năm về trước, hoa đào phấp phới trong mưa bụi đẹp đến nao lòng, hình như mùa xuân sinh ra là để dành cho trai gái yêu nhau, cho cuộc sống nẩy mầm mà thiên nhiên đã khéo ban tặng cho con người. Tôi quyết định mò sang Tiểu đoàn 7, lân la dò hỏi mãi, cuối cùng cũng gặp được anh Bùi Dưỡng người Hà Tĩnh, da đen cháy, thấp lùn. Thú thực nhìn người anh cũng “kha khá”, nhưng chỉ tiếc là anh làm mỗi cái việc nuôi quân! Sau một hồi làm quen, trước sự ngỡ ngàng của một số người, tôi và anh Bùi Dưỡng trở nên thân quen như anh em cùng làng gặp nhau vậy. Ra anh cũng có tâm trạng giống tôi. Anh nói - Tớ cũng để ý xem có người họ Bùi nào trong đơn vị không, mà chả có ai, nay gặp cậu là một. Kể từ đó trong suốt những năm làm lính, tôi và anh đã coi nhau như anh em ruột thịt. Chuyện đi nhận họ của tôi khi ban đầu là thế. Giờ nói chuyện họ, xin những người đọc bài tùy bút này, để tôi được làm rõ khái niệm họ là gì?

Theo các thư tịch cổ còn sót lại kể cả Việt Nam và Trung Quốc, thì con người từ thuở sơ khai sống hỗn cư, cho đến khi có mầm mống của chế độ hôn nhân gia đình đã phải trải qua nhiều thiên niên kỷ. Từ chế độ mẫu hệ, đến thế kỷ nào thì chuyển qua chế độ phụ hệ ở các châu lục? Bắt đầu từ quần thể, dần phát triển thành trăm họ, mỗi họ chính thức hình thành từ thời nào?

Bàn đến lịch sử nguồn gốc các họ ở nước ta, họ nào thuộc nguồn gốc Giao Chỉ, Việt Thường? Họ nào thuộc nguồn gốc Môn – Khmer? Họ nào từ Trung Hoa di cư sang ta dần dần thành “người Việt gốc Hoa”? Phân biệt các họ lớn, bé ? Rồi đến cách gọi nhau, cách xưng danh: "Từ họ đến tên lót, tên chính, hoặc họ hai từ gép, rồi đến một từ hoặc tên đặt trước, họ đặt sau”.( Phần này tôi đã đọc nhiều tư liệu sử, một số bài viết uyên thâm của các nhà nghiên cứu dân tộc học). Tất cả những lý luận nêu trên đều cần thiết phải bàn, nhưng không thể giải quyết trong một bài viết. Có lẽ tốt hơn cả, xin nhờ các học giả uyên thâm về triết học, sử học, ngôn ngữ học, dân tộc học, khảo cổ học giải đáp sẽ thấu đáo hơn. Ở đây tôi chỉ nêu thực tế đối với người Việt Nam, không ai là không biết họ là gì, trừ một số sắc tộc đặc biệt còn sót lại thuộc mẫu hệ chưa có họ chỉ có tên (ở Tây Nam Trung bộ, tộc người Rục, người Vân Kiều là một ví dụ). Vì trẻ em bắt đầu học nói đã biết tên mình, tên anh chị em trong gia đình mình; khoảng 4 - 5 tuổi đã biết mình họ gì, 9- 10 tuổi đã biết những người có quan hệ họ hàng gần gũi; trước tuổi thành niên ít ra đã có một vài lần được dự giỗ ông bà cụ kỵ, bất cứ người đó theo tôn giáo nào cũng không bỏ việc thờ phụng gia tiên, tuy nghi thức hành lễ có khác nhau nhưng bản chất không có gì thay đổi.

Cơ sở này đã giúp ta định nghĩa: “Họ là khái niệm của gia đình mở rộng.” Gia đình gồm: Cha mẹ sinh ta và anh chị em ruột ta là gia đình hai thế hệ, đến khi ta lấy vợ sinh con mà cha mẹ ta còn sống lên chức ông bà đó là gia đình ba thế hệ, cứ tiếp tục 4,5,6,7,8,9…thế hệ tức là họ. Họ có quan hệ thân sơ, muốn biết quan hệ thân sơ thì xem gia phả, nếu xuất phát từ một bào thai thì gọi là “đồng bào”. Họ Bùi Việt Nam chúng ta chính là “ đồng bào” cùng chung một nguồn cội, dòng tộc này về cơ bản đã phát triển trải qua hàng chục ngàn năm nhưng vẫn là anh em dòng giống máu mủ với nhau. Người xưa dạy, “máu đào hơn ao nước lã” là thế!

Ấn tượng ban đầu thôi thúc, muốn tìm được một người trong đơn vị làm chức to to một tý để tự hào, chứ không phải để nhờ vả, thì lại gặp ngay ông cấp dưỡng! Chuyện ấy cũng qua nhanh, bởi chiến tranh là con quái vật chuyên ăn thịt người, biết sống chết ra sao, miễn là anh em họ hàng gần bó với nhau là được. Sau này có dịp tôi cùng Giáo sư Tô Ngọc Thanh, Viện trưởng Viện dân tộc học lên Đền Hùng khi đọc tấm bia đá tại Đền Trung, mới thấy một cụ họ Bùi (ngự) trong bia cổ, ở nơi ngọn nguồn dân tộc mà mừng đến rơi nước mắt, ôi, non nước là đây! Giáo sư Tô Ngọc Thanh còn giúp tôi đọc sử của vua Lê Đại Hành biên chép. Ấy là vào thời Hùng Vương thứ 6 cách nay 2600 năm, khi Nhà Hùng bị giặc xâm lấn bờ cõi, Vua Hùng đã hội các vị thủ lĩnh Lê tộc, Trần tộc, Bùi tộc, Ngô tộc…bàn tính việc đánh đuổi giặc bảo vệ nhà nước Văn Lang. Như thế có thể hiểu vai trò lịch sử của gia tộc Bùi Việt chúng ta đã có mặt ngay từ ngày đầu dựng nước. Cứ liệu lịch sử ấy cũng khẳng định trách nhiệm người họ Bùi ở mọi thời đại, là trách nhiệm lịch sử cùng các triều đại yêu nước, cùng bách tính trăm họ gánh vác mọi buồn vui muôn đời của đất nước.

Cứ lần theo dấu sử, mới thấy một dòng họ đầy nghĩa khí, ăm ắp tư liệu quan trường thời nào cũng có. Tướng võ, tướng văn, tướng nữ tướng nam, tiến sĩ Nho học Tây học, Nôm học, tiếng Việt học đủ cả. Còn người con gái họ Bùi xinh đẹp, nhân ái thông minh, kết duyên với chàng trai tài danh họ khác, sinh ra vua, sinh ra tướng thì không thiếu. Tỷ như Bùi Thị Anh Hoa, con gái Thái ấp An Sinh, Đông Triều, Quảng Ninh kết duyên với Trần Hấp, Trần Hấp sinh ra Trần Cảnh vị vua đầu tiên của triều Trần. Vua Đồng Khánh triều Nguyễn, mẹ là bà Phi họ Bùi, vua Mạc Mậu Hợp mẹ là người họ Bùi được tấn phong là Quốc mẫu nay còn sắc phong; còn nhiều lắm, mời các vị nếu quan tâm xin đọc sử…Tôi xin nói chuyện gần nay, cụ Bùi Thị Gái chính là bà nội Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một vị tướng lẫy lừng kim cổ đông tây. Có lẽ cũng chỉ nên nói ngần ấy là vừa đủ cho một dòng họ đã sản sinh lắm mỹ nhân sắc nước hương trời, đã sinh ra những bậc quân vương, những hàng quốc tướng cho non sông đất nước chúng ta.

Nhưng việc nước đâu chỉ có mỹ nhân. Thời vua Hùng Duệ Vương thứ mười tám, Tướng công Bùi Đình Chấn đã là rường cột của nhà vua, cầm quân đánh lui Nhà Thục Phán xâm lấn cõi bờ. Nay đền thờ và lăng mộ Tướng công còn tại làng Bất Nạo, Kim Thành, Hải Dương. Đặc biệt công lao của tướng công không chỉ được truyền miệng qua mọi thế hệ người dân nơi đây, quan trọng hơn, Tướng công đã được các triều Trần, Lê, Nguyễn tấn phong và ban Chỉ cho Quan làng Bất Nạo tôn là Thành Hoàng làng để thờ phụng. Khi An Dương Vương kế nghiệp nhà Hùng Vương thứ 18, trong lịch sử dân tộc ta đã sẩy ra một chuyện tình bi thảm dẫn tới họa mất nước. Nói như bây giờ là mất cảnh giác, để lộ vũ khí trang bị, đó là gian kế chuyện tình Mỵ Châu - Trọng Thủy do Triệu Đà sắp đặt. Khi Triệu Đà công thành, nỏ thần bị vô hiệu, vua An Dương Vương đành mang con là Công chúa Mỵ Châu cùng với tàn quân chạy về vùng biển Quỳnh Lưu, Nghệ An. Giặc nham hiểm đuổi theo dấu lông ngỗng do Mỵ Châu rải trên dọc đường, để chồng là Trọng Thủy theo dấu đó biết để tìm nhau. Nhưng nàng không ngờ đó chính lại là dấu vết của giặc trong nhà đã tính toán từ trước để lần theo, dẫn tới cái chết bi thảm nhất của hai cha con nàng trong câu chuyện tình đẫm máu. Khi vua và công chúa chạy đến vùng Cầu Giát, Quỳnh Lưu bây giờ, thế giặc truy sát ngày càng trở lên nguy cấp. Tướng quân Bùi Văn Thốn đã mang cánh quân từ Diễn Châu ra ứng cứu. Cuộc chiến đấu ác liệt ngăn giặc đã diễn ra tại khu vực Cầu Giát làm trời long núi lở, lửa cháy ngùn ngụt khắp rừng, thây giặc chết chồng chất, ngổn ngang khắp đồng bãi, chân đồi, bờ ruộng, khe suối. Cánh quân của Bùi Văn Thốn trở thành đội quân cảm tử, thành bức tường gươm giáo ngăn chặn bước tiến của quân giặc, tạo thời gian cho vua An Dương Vương chạy tới lúc cùng đường, Người hiểu ra mưu giặc, đã rút gươm chém Mỵ Châu và trẫm mình xuống biển. Cuộc chiến đấu ngăn giặc của Tướng quân Bùi Văn Thốn, tuy không cứu được vua, nhưng đã ngăn chặn bước tiến quân thù, không để kẻ thù thâm độc và lưỡi gươm bẩn thỉu có cơ hội chém vào đức vua của nước Âu Lạc.

Lại nói vào thời Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa năm 43 sau Công nguyên. Hai tướng Bùi Thạch Đa, Bùi Thạch Đê đã về tụ nghĩa dưới cờ của công chúa Thiều Hoa cùng nghĩa quân Hai Bà đánh giặc Mã Viện. Cuộc chiến chống xâm lược đã lập được nhiều chiến công vang dội, rồi sau cũng rơi vào thế cùng đường trước sức mạnh biển người của giặc, hai dũng tướng của non sông đã tỏ rõ khí phách người Đại Việt thà chết, quyết không để rơi vào tay giặc. Sau khi Hai Bà tuẫn tiết, hai dũng tướng đã đưa 500 nghĩa sĩ về khu Rừng Cấm – Giếng Mỏ quyên sinh tại đó. Nơi đây, nay thành khu Di tích lịch sử đã được xếp hạng của tỉnh Phú Thọ. Sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc, tính từ thời Hai Bà Trưng giương cờ nghĩa đến khi Đinh Tiên Hoàng lên ngôi, đã ghi đậm dấu ấn sự ra đời của nhà nước quân chủ đầu tiên trong lịch sử nước nhà, đã khẳng định một đất nước có đế có vương. Sẽ là khiếm khuyết lớn, nếu nói đến triều Đinh mà không nhắc đến tướng công Bùi Quang Dũng. Ông người gốc Thanh Ba, Phú Thọ, khi đất nước loạn mười hai sứ quân ông đã về trấn giữ một vùng duyên hải từ nam Hải Phòng đến Kim Sơn, Ninh Bình ngày nay. Với đội quân hùng mạnh, lại được dũng tướng mưu lược, binh pháp tinh thông, nhìn xa, trông rộng, chỉ huy đánh đâu thắng đấy làm kẻ địch khiếp sợ, các sứ quân khác phải kiêng nể không dám manh động. Nhận rõ Bùi Quang Dũng là con người chiến lược văn võ song toàn, năm Bính Dần (966), các sứ quân Đỗ Cảnh Thạc, Ngô Xương Xí, Kiều Công Hãn đã cử người đến vời ông ra hợp tác, nhưng ông cho rằng họ đều không phải là bậc minh chủ, nên đã từ chối. Năm Đinh Mão (967) một sứ quân hùng mạnh do Đinh Bộ Lĩnh chỉ huy nổi lên ở vùng Trường Yên, ông thấy Đinh Bộ Lĩnh là người cương trực, mưu lược, có chí lớn Bùi Quang Dũng đã cùng với Lưu Nhân Chú, Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú dốc lòng phò tá nhà Đinh bình định xong nạn cát cứ, chấm dứt cảnh ly loạn thống khổ của muôn dân. Năm Mậu Thìn (968) Đinh Bộ Lĩnh đăng quang ngôi Hoàng đế, phong Bùi Quang Dũng chức Anh dực tướng quân, sung Điện tiền chỉ huy sứ kiêm thiêm sự. Vua Đinh ở ngôi cao được một giáp, sau hai cha con bị ám hại, Lê Hoàn được nước  đăng ngôi vua trị vì thiên hạ. Là bầy tôi, Bùi Quang Dũng quyết không thờ hai vua, ông lui quân về động Trinh Thạch an dân, chống giặc giã ở vùng duyên hải phía Bắc. Khi Lý Công Uẩn (1009 – 1028) vị Hoàng đế sáng lập triều lập triều Lý lên ngôi vua thay nhà Tiền Lê, biết Bùi Quang Dũng là tướng giỏi, lòng dạ trung trinh đã ba lần ban “tam cố thảo thư” mời về Thăng Long bàn việc nước, ông đều cáo tuổi già, từ chối. Mãi sau này ông mới cùng con trai là Đại tướng Bùi Quang Anh dẹp yên giặc giã tại vùng Kỳ Bố, Thái Bình. Khi ông chết, cảm khái tấm lòng trung trinh nghĩa khí, vua Lý Công Uẩn ban “Ngự chế bi” ghi công đức hiền tài: “Hổ tướng trời Nam, tinh anh sông núi, khí thiêng đất trời hun đúc”. Đất nước bao bận can qua, trước họa xâm lược của đế chế Nguyên Mông giày xéo nước Việt, năm 1285 đến năm 1288 khi Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo mưu tính cuộc đại phá quân Nguyên Mông trên sông Bạch Đằng. Trước cuộc chiến điều khiến Trần Hưng Đạo lo lắng nhất là, việc giấu quân bảo đảm giữ bí mật, tạo thế bất ngờ giáng cho quân giặc một đòn chiến lược kết thúc số phận bi thảm của bọn xâm lược. Theo binh pháp ngày ấy, chỉ nhìn khói bếp sẽ đoán biết mỗi đội có bao nhiêu quân, cánh quân đó đồn trú ở đâu, cách sử dụng lực lượng và ý đồ chiến lược trận đánh của đối phương. Mà việc ăn uống của sĩ tốt thì không thể không nấu nướng. Người hiến kế giúp Trần Hưng Đạo giải quyết lo lắng đó là Bùi Thị Từ Nhiên, một thiếu nữ anh tú vùng An Hải, Hải Phòng. Khi nghe bà trình bày kế sách, Trần Hưng Đạo đã kinh ngạc thốt lên, “ Ngươi là thần, trời đã cử xuống giúp ta!” Nói xong, Hưng Đạo nhè nhẹ cất tiếng hát, “Thế nước năm nay đánh giặc nhàn…” Được Trần Hưng Đạo khuyến khích, bà đã cho dân làng các vùng chế ra các loại lương khô và thực phẩm cấp phát cho ba vạn quân lính nhà Trần đồn trú tuyệt nhiên không phải nấu nướng, giữ bí mật hoàn toàn trước khi bước vào chiến dịch. Kế sách của bà đã giúp cho Trần Hưng Đạo bịt mắt được quân thù và vô hiệu cách dụng binh của giặc. Khi trận chiến diễn ra bất ngờ tướng giặc kinh hồn bạt vía, khi thấy mọi cánh quân xông ra cứ như vừa trên trời sa xuống nhằm vào chúng mà chém giết, mà đốt phá. Chỉ một hai canh giờ cả đội quân hùng hậu của giặc tan tành, xác chết nổi đầy sông, hàng ngàn thuyền chiến to lớn bị bãi cọc nhọn phá tan. Những chiến thuyền đi sau từ thượng lưu bị quân Trần tri sát dồn xuống tử địa, quân địch khiếp sợ, hoảng loạn cái nọ đâm vào cái kia bốc cháy ngùn ngụt dữ dội, làm cho nước sông Bạch Đằng dài bốn năm cây số thành dòng sông máu và biển lửa. Sau ngày chiến thắng bà đã được vua Trần tấn phong “Nữ tướng Bùi Thị Từ Nhiên.” Sau khi bà mất, vua Trần Nhân Tông ban cho nhân dân Hải Phòng phối thờ cùng Trần Hưng Đạo tại đình Quận Lê Chân, Hải Phòng (là Di Tích lịch sử Quốc gia). Còn biết bao chiến tướng khác nổi danh trong sử sách là người họ Bùi như, Mưu sĩ Thái phó Bùi Quốc Hưng, giúp Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa. Bùi Bị cùng tướng quân Lê Sát làm nên trận chiến oanh liệt trúc chẻ tro bay tại trận Tốt Động, Chúc Động mà Mưu thần Nguyễn Trãi viết trong Đại cáo bình ngô. Khi Lê Lợi lên ngôi vua, trong suốt các triều vua Lê bao giờ cũng có ba bốn chục người họ Bùi làm quan trong triều, tiêu biểu như Đại thần đầu triều Bùi Cẩm Hổ người Hà Tĩnh, Tiến sĩ, Thượng thư Bùi Khắc Nhất người Hoằng Hóa, tiến sĩ duy nhất trong các triều vua Lê đã làm quan Thượng thư qua ba triều sáu bộ. Hoặc dòng họ Bùi làng Thịnh Liệt, Thăng Long là dòng họ đỗ đạt và đăng quang quan trường đông nhất trong các dòng họ Việt Nam vào triều Lê. Được vua Lê tấn phong “Danh gia vọng tộc” ở trấn Sơn Nam.

Đấy cũng chỉ nói sơ sơ về võ tướng, mà đâu đã hết. Cứ theo dòng thời gian và mọi cuộc xâm lược do kẻ thù nước ngoài gây cho dân tộc ta, thì dân tộc Việt Nam và gia tộc Bùi Việt lại đẻ ra các hổ tướng làm rạng danh sử sách nước nhà như, Bùi Sĩ Lâm triều Mạc, Bùi Tá Hán (1496 – 1568) gốc người Châu Ái (nay là Nghệ An) theo cờ “phù Lê diệt Mạc” của tướng Nguyễn Kim. Đầu triều Nguyễn, Bùi Tá Hán cầm gươm đi mở cõi phương Nam và tìm ra hoàng tử nhà hậu Lê con vua Chiêu Tông là Duy Ninh còn sót lại  bên Lào, về lập ra triều Lê Trang Tông, vua ở ngôi (1533 – 1548, vẫn thuộc triều Lê Trung Hưng). Dưới triều vua Lê Trang Tông, Bùi Tá Hán được phong làm Bắc đô đốc Phủ chưởng phủ sự, trấn nhậm ở Thừa tuyên Quảng Nam, rồi được ban tước Trấn Quốc Công. Sử sách liệt ông vào hàng danh tướng có công khôi phục nhà Hậu Lê. Thời Tây Sơn (1788 - 1792), nữ tướng Bùi Thị Xuân, một hổ tướng của Quang Trung - Nguyễn Huệ, sử sách đã xem bà là một trang nữ tướng tuấn kiệt sáng chói trời Nam. Việc làm tướng đã khó, mà tướng ra tướng lại càng khó. Song việc học để có được những trí tuệ uyên thâm mẫn tiệp trở thành sao khuê, sao mai rạng sáng trên trời Nam như tiến sĩ Thân Nhân Trung nói “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” thì lại vô cùng khó. Đó là người phải có trí anh minh hơn người, phải có tâm sáng soi tỏ giữ trời đất và có chí lớn dám nuốt cả sông núi vào bụng. Thứ nữa phải biết tu luyện tài năng, trí tuệ của khắp thiên hạ đông tây bồi đắp mà thành, mới mong trở thành người siêu phàm, ngồi nhà mà biết việc ngoài ngàn dặm, như thế mới gọi là thực học, mới mang được chí lớn ra giúp dân trị nước. Trong 82 tấm bia tiến sĩ tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội, họ Bùi có 72 tiến sĩ trong số hơn 2900 tiến sĩ được thờ tại nơi linh thiêng nhất của đất nước ta về đạo học. Năm 1185, Cụ Bùi Quốc Khái đã đỗ Tiến sĩ khai khoa Thăng Long, (sau này có sách viết là Trạng nguyên Bùi Quốc Khái), khoa thi này lấy tiến sĩ làm thầy giáo, chứ không lấy trạng nguyên, nếu hiểu là trạng nguyên cũng không sai, vì cụ đỗ đầu khóa thi. Sau khi đỗ tiến sĩ, Bùi Quốc Khái dạy học cho các hoàng tử, con quan đầu triều, các nho sinh giỏi của cả nước về học tại nhà Thái học, nhà còn nguyên vẹn đến ngày nay. Cũng tại Quốc Tử Giám văn bia cụ Bùi Huy Bích, khắc cụ là “Tể tướng” - dòng dõi khoa bảng của đất kinh kỳ. Rồi Văn Miếu Xích Đằng, Hưng Yên có 6 tiến sĩ họ Bùi, Văn Miếu Bắc Ninh có 9 cụ Tiến sĩ họ Bùi, Văn Miếu Mao Điền, Hải Dương có 11 cụ Tiến sĩ họ Bùi, Văn Miếu kinh đô Huế có 7 cụ Tiến sĩ họ Bùi, Văn Miếu Tân Biên, Đồng Nai có 3 cụ Tiến sĩ họ Bùi, Văn Miếu Hưng Nguyên, Nghệ An có 8 cụ Tiến sĩ họ Bùi, còn một số bia của Văn miếu này chưa được phục dựng.

Đi nhận họ gặp người và đọc sách, lắm lúc không khỏi ngỡ ngàng khi bắt gặp những chi họ Bùi “toàn chữ là chữ!” Mà chữ qua hàng mấy trăm năm đến bây giờ vẫn chữ! Tôi đã lặng nhìn con sông Hồng vừa thoát ra khỏi hai bờ thành phố đã mau chóng tìm lại được vẻ trầm tĩnh của mình. Ấy là làng Châu Cầu, Hà Nam, một nơi đất không lấy gì làm rộng lắm bên con sông Hồng, từ miền thượng lưu xuôi xuống cửa biển, nhìn lại một ngàn năm khoa cử nước nhà, liệu đã có thể tìm được mấy dòng họ đời nào cũng có người đỗ đạt hiển vinh? Nhà Bác học  Lê Quý Đôn khi ngồi chép sử cách nay gần ba trăm năm đã tự hỏi mình như thế, sau đó Phan Huy Chú cách nay hai trăm năm cũng lại hỏi như thế, và cả hai cụ đều ghi, “Chỉ thấy duy nhất có một họ Bùi mà thôi”.

Cụ Bùi Kỷ người gốc Châu Cầu, Phủ Lý, hai mười bảy tuổi đậu Phó bảng, khoa thi Kỷ Mùi (1909). Vào thời ấy thi tiến sĩ ai đỗ cao được ghi tên ở bảng chính, gọi là ông Nghè. Ai đỗ thấp có tên ở bảng phụ, gọi là phó bảng, nếu kể về trước nữa thì phó bảng còn được gọi là Đồng tiến sĩ xuất thân (hai bố con Ngô Thì Nhậm đi thi đồng khoa đều đỗ phó bảng). Cụ Bùi Kỷ đi thi không để làm quan, là chỉ muốn noi gương cha ông đi tìm sự vẻ vang cho dòng họ, cho nòi giống. Mặc dù sau khi đỗ Phó bảng Bùi Kỷ còn qua Pháp học mấy năm cùng một lần với cụ Phan Kế Toại. Ấy vậy mà Bùi Kỷ thường lấy làm ngại ngùng mỗi khi thấy ai gọi mình là ông Phó bảng. Cha là ông Nghè được dân chúng Hà Nam gọi theo tên làng, ông Nghè Châu Cầu. Cụ nội cũng là Nghè, nhưng lại được gọi theo tên cúng cơm là cụ Tuần Quế. Tính xa lên những triều đại trước thì nhà ấy còn lắm Hoàng giáp tiến sĩ. Trước Cách mạng tháng Tám dăm năm con trai út cụ Phó bảng là Bùi Diễm đã nhận bằng tiến sĩ luật học, (Bùi Diễm là Tổng biên tập tờ báo tiếng Anh tại Sài Gòn năm 1954. Ông cũng là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu tại Liên Hiệp Quốc) thế là tính tròn trong vòng một trăm năm nhà ấy đã có bốn đời tiến sĩ nối tiếp (Tứ đại đồng đường đại đại khoa), Hán học có Tây học có. Cho tới  những năm sáu mươi của của thế kỷ trước và cho đến hôm nay, nhà ấy vẫn nối tiếp có khá nhiều người là tiến sĩ, giáo sư, anh hùng Quân đội, Thầy thuốc nhân dân, thậm chí là  bàn tay vàng trong nền y học Nước nhà.

Khi đề cập đến cụ Phó bảng Bùi Kỷ mà không nói một chút nhỏ về những công trình văn hóa đồ sộ của cụ để lại, thì e có lỗi với người đọc. Cuốn nho giáo của cụ Trần Trọng Kim trước khi mang đi in đã được cụ Bùi Kỷ xem lại. Em vợ nhờ cậy thì anh rể không thể không xem giúp. Sau khi cuốn sách in ra cụ Phan Khôi đã viết bài khen, nhưng lại bị cụ Ngô Tất Tố có bài chê. Gặp nhau ngoài kháng chiến cụ Tố còn trách cụ Phan, viết thế mà cũng khen được lạ thật, cụ Phan tặc lưỡi, cũng biết vậy nhưng ở đời khen chê có gì lớn lắm đâu. Ở đời phải có khen có chê cũng không thấy hai cụ Trần và Bùi đáp lại, nhưng lại có một học giả người Pháp khi viết lời giới thiệu bộ Nho Giáo gồm hai tập Thượng và Hạ đã đánh giá rất cao bộ sách này, xem đó là kim chỉ Nam đáng tin cậy cho những ai muốn bước vào nghiên cứu triết học Trung Hoa.

Gần đây lại thấy có cụ Vũ Tuân Sán nhắc lại sự thể này trong công trình khảo cứu dày dặn của Hà Nội xưa và nay. Mẩu chuyện nhỏ. Vào năm đầu thập kỷ sáu mươi của thế kỷ trước thành phố Hà Nội lúc đó định chọn ngôi nhà của cụ Phó bảng để làm nhà riêng cho một ông đại sứ nước một nước nào đó. Biết chuyện ấy, Bác liền gọi hai vị Bí thư và Chủ tịch lên, vừa gặp Bác đã hỏi, Hà Nội hết nhà rồi hay sao mà các chú phải lấy nhà của ông cụ?

Lúc sắp qua đời, nằm ở nhà A Bệnh viện Việt Xô, cụ Phó bảng Bùi Kỷ còn cầm bút viết lá thư bái biệt gửi lên Bác. Xem thế đủ thấy cách  khu xử của cụ nhuần nhị biết chừng nào.

Còn biết bao những danh nhân hào kiệt của dòng họ Bùi Việt Nam, họ là những gam trầm trong bản đại hùng ca dân tộc. Xin không thể liệt kê đầy đủ ở bài tùy bút nhỏ này, bởi càng viết sẽ càng thiếu. Như cụ Bùi Viện thủy tổ của hải quân Việt Nam, người Việt Nam đầu tiên tới nước Hoa Kỳ gặp Tổng thống Mỹ ở thế kỷ XVIII. Sau  khi ở Mỹ về cụ đã cho xây dựng cảng Hải Phòng để giao thương buôn bán với nước ngoài. Thời đại Hồ Chí Minh có cụ Bùi Bằng Đoàn Chủ tịch Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Cả những người lính chiến trận là anh hùng, như Bùi Quang Thận cắm lá Cờ giải phóng lên nóc Dinh Độc Lập, kết thúc cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất tổ quốc lúc 11 giờ 30 ngày 30/4/1975. Ông Bùi Tùng Chính ủy Trung đoàn 203, Quân đoàn 3, người thảo Bản tuyên bố đầu hàng cho Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn Dương Văn Minh đọc trên đài Sài Gòn lúc đó. Bản tuyên bố đầu hàng này đã chặn lại bao đau thương chết chóc, xương máu của dân tộc chúng ta, nếu nó không được tuyên bố ngay buổi trưa ngày 30/4 năm đó.

Mười năm nhìn lại (2004 - 2014), từ ngày có Ban liên lạc lâm thời, nay là Ban chấp hành Cộng đồng họ Bùi toàn quốc. Một chặng đường chưa dài, nhưng với những mốc son mà tổ chức họ chúng ta đã làm được thì không nhỏ chút nào. Nhờ có tổ chức ấy, chúng ta mới có cơ sở khoa học tìm tòi một cách có hệ thống về lịch sử dòng họ, về tiên tổ cha ông đã ghi đậm dấu ấn vàng son trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Cội rễ là điểm tựa, là niềm tin mở ra cho chúng ta một con đường kết nối anh em trên mọi miền Tổ quốc và người họ Bùi chúng ta dù ở trong nước hay ở nước ngoài cũng đều là anh em một nhà, có chung gốc tổ là họ Bùi bản địa Việt Nam.

Xuân Ất Mùi (2015)
 Bản in  Lên đầu trang

- Họ Bùi quê tôi (27/06/2017)
- Cần lắm những tấm lòng (05/12/2016)
- Mừng họ Bùi đón bằng di tích Đoan Quận công Bùi Thế Đạt (26/02/2016)
- Tản mạn những ngày cuối năm về xứ Nghệ và Đô Lương - ngày ấy, bây giờ (23/01/2016)
- Mưa trắng cờ lau (14/01/2016)
- Tản mạn lễ Đông Chí (14/01/2016)
- Ghi chép tìm mộ liệt sĩ nhân dịp kỷ niệm Ngày thương binh liệt sĩ 27/07/2015 (21/07/2015)
- Bài viết kỷ niệm ngày 30/04: Nghĩa tình đồng đội (28/04/2015)
- Bài viết kỷ niệm ngày 30/04: Một đêm không ngủ (28/04/2015)
- Nghĩ vặt về Văn hóa - Kỳ 1: Chuyện vui ngày tết (14/02/2015)
TÌM KIẾM BÀI VIẾT
THƯ VIỆN ẢNH
           Việc họ xưa & nay
 Văn hóa dòng họ: Diện mạo và hướng đi
 Văn hóa dòng họ và dòng họ văn hóa
 Vai trò tộc trưởng xưa và nay khác nhau như thế nào?
 Nguyên tắc cúng, khấn, vái, lạy
 Gia phả và nhà thờ họ
           Truyền thống văn hóa
 Bàn về cách xưng hô trong gia đình
 Đám giỗ có vị trí quan trọng trong việc thờ cúng tổ tiên
 Để gia phả trở thành nhân tố tích cực trong việc phát huy truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam
 Gia phong xứ Nghệ
 Gia đình, dòng họ - những vấn đề cơ bản của văn hoá làng, xã Việt Nam
           Làng quê Việt Nam
 Trò vui dân gian ngày xuân thuở xưa và ý nghĩa nhân văn của nó
 Việc làng nước ngày xưa
 Cổng làng - hồn Việt xưa nay vương vấn...
 Đình làng - gương mặt kiến trúc cổ Việt Nam
 Kiến trúc làng Việt Nam
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BAN LIÊN LẠC HỌ BÙI NGHỆ AN
Email :
hobuinghean@gmail.com - Website : www.hobuinghean.com.vn
Trưởng ban liên lạc : Bùi Xuân Lương - Điện thoại : 0945.912.618
Phụ trách nội dung : Bùi Chí Nhân - Điện thoại : 0915.555.977

du học nhật bản tại tp vinh học tiếng nhật tại tp vinh du học nhật bản tại nghệ an học tiếng nhật tại nghệ an